HomeTưởng NiệmThời SựHải QuânSử LiệuTìm hiểuSưu TầmVideoGiải TríLinks
Viewed: 8869889 
Hải QuânHải Quân VNCHTài liệu Hải Quân VNCHDiễnbiến khiến Mỹ thamchiến
   
Tài liệu Hải Quân VNCH
Những câu chuyện hải hồ

Phong Trào Dân Chủ VN
Báo Tự Do Ngôn luận ra đời, một bước đột phát trong nỗ lực phá vỡ chính sách độc tai bưng bít thông tin của CSVN.
Báo Tự Do Dân Chủ  ra đời, ngày 2 tháng 9 năm 2006, tại thủ đô Hà Nội.
Tòa án man rợ Cộng sản VN bịt miệng Linh mục Nguyễn Văn Lý.

Hoàng Sa&Trường Sa
Lực lượng Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa 1974
Tài liệu giá trị lich sử do Hải sư Thềm Sơn Hà sưu tìm.
Đại cương về Quần đảo Hoàng Sa 
Hình ảnh - Địa lý - Khí hậu - Vị trí chiến lược. 
Bài sưu tầm của Hải sư Thềm Sơn Hà
HQ10 đi vào lịch sử 
Trận Hải chiến 19/01/1974 chống Trung Cộng xâm lăng.
HQ5 và Hải chiến Hòang Sa 1974 
Hồi ký của Trương Văn Liêm
Biến cố Trường Sa tháng 2-1974
VNCH mở cuộc hành quân Trần Hưng Đạo 48 tại Trường Sa cuối tháng 1/1974 để cũng cố chủ quyền VN ngăn ngừa tham vọng bành trướng của Trung cộng lấn chiếm quần đảo Trường Sa

 

Tài liệu Hải Quân VNCH
Lực Lượng Đặc nhiệm 99
Một tài liệu sống thực để cho các thế hệ mai sau hiểu thêm về nỗi đau đớn của một cuộc tương tàn mà người Việt Nam dù Nam hay Bắc, đã không làm chủ được... 
Hình thành HQ/VNCH
Bài sưu tầm của Bảo Bình Nguyễn Văn Ơn
Sea Float Năm Căn
Chiến dịch Trần Hưng Đạo 4 bình định Năn Căn Cà Mau do Hải sư Trương Thanh Việt sưu tầm.


DIỄN BIẾN KHIẾN HOA-KỲ THAM CHIẾN VN

Bảo Bình Nguyễn Văn Ơn

    Từ năm 1958 đến 1960, hiềm khích giữa hai nước đàn anh Cộng-Sản là Liên-Sô và Trung-Cộng đã đến hồi căng thẳng. Cả hai đều muốn dùng ảnh hưởng riêng để lôi kéo đàn em Cộng-Sản Bắc-Việt (CSBV) đứng hẳn về phía mình, cho nên họ cùng tăng viện trợ giúp Hà-Nội. Đặc biệt, sau chuyến xâm nhập vô Nam lần thứ hai vào năm 1959, Lê-Duẫn thẩm định lại tình hình chính trị rồi đi đến kết luận là “cao trào Đồng-Khởi phát động tại Bến-Tre nay đã chin muồi, dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, toàn miền Nam đã đến giai đoạn vũ trang tiến lên cướp chính quyền”.
    Với chính sách đu dây khôn khéo giữa Liên-Sô và Trung-Cộng, Hồ-Chí-Minh cũng cho là cơ hội thôn tính miền Nam đã tới, vội triệu tập Đại hội Đảng III năm 1960 (Lê-Duẫn được bầu làm Bí thư thứ nhứt trong kỳ này) và đưa ra hai mục tiêu chiến lược:
            - Đẩy mạnh miền Bắc quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội (Transition period to socialism).
            - Đồng thời xâm lược miền Nam, thống nhất đất nước để hoàn thành nghĩa vụ mà Đệ III Quốc tế Cộng-Sản đã giao phó.
    Còn theo nguyệt san National Geographic Magazine số January 2001, dựa vào tài liệu giải mật của lầu Pentagon năm 2000, thì kế hoạch toàn cầu của Washington vào đầu thập niên 1950 – sau khi thống nhất Hoa-Lục, Trung-Cộng đưa chí nguyện quân sang tham chiến tại Triều-Tiên 1950 rồi giúp VMCS thắng Pháp trận Điên-Biên-Phủ – là biến VNCH thành một tiền đồn chống Cộng trên Bán đảo Đông-Dương. Trong giai đoạn này, HK coi đây là sách lược toàn cầu của mình ở khu vực Đông-Nam-Á, cho nên các chính phủ kế tiếp như Kenedy và Johnson đều tìm mọi cách hợp pháp để đưa Quân đội Mỹ đến VN tham chiến. Phần dưới đây là những diễn biến – kể cả diễn biến ngụy tạo – đã giúp HK đạt được ý đồ của họ là đổ bộ TQLC Hoa kỳ lên Đà-Nẵng ngày 08/03/1965; mặc dù trước đó, Tổng thống Ngô-Đình-Diệm một mực khước từ bất cứ sự hiện diện của Quân đội Đồng minh nào tại nơi đây.

A.- ĐƯỜNG DÂY XÂM NHẬP
    Theo gương chiến tranh trường kỳ của Trung-Cộng, CSBV đã âm mưu trường kỳ mai phục tiến lên ngay từ những ngày đầu chia đôi đất nước nên không bao giờ nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Genève 1954 mà họ ký kết với Pháp. Theo thống kê của Bộ Chiêu-Hồi VNCH 1960, trước khi tập kết tượng trưng 80 ngàn bộ đội Mùa-Thu ra Bắc cho có hình thức, Hồ-Chí-Minh ra lệnh lén lút ém lại trên 10 ngàn cán bộ nòng cốt nằm vùng khắp các cơ sở hạ tầng trong Nam và chỉ thị cho Quân khu 5 khai thác con đường Đông-Lào, còn gọi là đường Trường-Sơn-Đông, trở thành đường mòn Hồ-Chí-Minh để vận chuyển tiếp liệu và bồi dưỡng chính trị cho đám cán bộ còn bám trụ ở lại tiếp tục đánh phá miền Nam. Thấy Tổng thống Ngô-Đình-Diệm bác bỏ cuộc đàm phán thống nhất hai miền, Thủ tướng CSBV Phạm-Văn-Đồng nặng nề lên án chính phủ miền Nam, đồng thời cực lực chống đối sách lược toàn cầu Domino của Tổng thống Dwight D.Eisenhower (1) trong tiến trình Mỹ ủng hộ VNCH xin gia nhập vào Liên-Hiệp-Quốc, và cổ súy việc lật đổ VNCH bằng bạo lực. Dựa vào nghị quyết xâm lược miền Nam, bộ máy quân sự của tướng Võ-Nguyên-Giáp được lệnh đẩy mạnh bộ đội trong Nam đang đấu tranh chính trị (Political struggle) vùng lên đấu tranh vũ trang cướp chính quyền (Armes struggle to seize political power). Đại công tác đầu tiên hỗ trợ bộ đội miền Nam của Quân đội CSBV là huấn luyện và tăng cường chiến cụ (Tools of war) cho Việt-Cộng bằng cách phát triển hai đường dây tiếp tế ngoài biển cũng như trong rừng để Việt-Cộng sống còn.
    1.  ĐOÀN 559 TRÊN ĐƯỜNG MÒN HỒ-CHÍ-MINH.
    Đoàn được thành lập vào tháng 5 năm 1959, nên mang bí số 559, còn gọi là Đoàn vận tải chiến lược đường mòn Hồ-Chí-Minh do Trung tá Võ-Bẩm chỉ huy. Các thủ trưởng kế nhiệm là Thượng tá CSBV Phan-Trọng-Tuệ (1965-1967) và Đại tá CSBV Đồng-Sỹ-Nguyên (1967-1975). Đường mòn Hồ-Chí-Minh bắt đầu từ Vinh (Hà-Tĩnh) chạy uốn khúc qua nhiều rừng núi trên cả ngàn cây số vô tận chiến khu C (Tà-Thiết – Lộc-Ninh), nhiều đoạn xuyên qua đất Lào và Miên được xem là khu an toàn. Hà-Nội bắt đầu đi vào hiện đại hóa đường mòn này vào đầu năm 1960 để chuyển vận cho đại cuộc xâm lăng miền Nam, với hơn 30 ngàn Công binh thường trực và trên 10 ngàn Công binh cơ giới Trung-Cộng giúp sức. Binh trạm (Troops station) vừa tu bổ đường, vừa chuyển vận chiến cụ được thiết lập trên 30 vị trí quan trọng, quân số tăng thành 60 ngàn với danh xưng là Binh đoàn Trường-Sơn. Đầu năm 1975, theo Đại tá Summers,Jr. thì đường mòn Hồ-Chí-Minh giờ đây đã trở thành xa lộ hai chiều, rộng 8 mét, dài cả ngàn cây số; lưu lượng xe lưu thông 10 ngàn chuyến/tuần lễ và ống dẫn dầu dài 5 ngàn cây số chạy từ Hải-Phòng đến tận vùng Lưỡi-Câu (Fish hook) tỉnh Phước-Long miền Đông-Nam-Bộ (2).
    2.  ĐOÀN 759 VỚI SỰ KIỆN SỰ CỐ VŨNG-RÔ.
    a)- Đoàn thành lập vào tháng 7 năm 1959, nên cũng có bí số 759, còn gọi là Đoàn vận tải chiến lược đường biển, và trong những ngày đầu đặt trực thuộc thủ trưởng Võ-Bẩm. Nhưng mãi đến đầu tháng 1 năm 1960, lợi dụng gió mùa Đông-Bắc, Đoàn mới bắt đầu đi vào công tác vận chuyển vũ khí xâm nhập miền Nam. Theo một phúc trình đặc biệt của HQ/Đại úy Nguyễn-Công-Hội (Khóa 5 SQHQ/Nha-Trang, Chỉ huy trưởng Duyên khu Đà-Nẵng) còn lưu lại trong Văn-Khố Hải quân thì thoạt đầu , thực lực của Đoàn 759 chỉ gồm có 20 ghe đánh cá (dài 15 thước, rộng 4 thước, trọng tải 10 tấn) với hơn 300 bộ đội của Tiểu đoàn 604 Vĩnh-Linh tình nguyện huấn luyện trở thành thủy thủ hải hành cận duyên của Đoàn đánh cá Cửa Gianh (Đồng-Hới) để bí mật tải hàng vào Nam. Thông thường, những ghe chuẩn bị xâm nhập tập trung nhận hàng tại cửa Nhật-Lệ (Quảng-Khê), rồi ra đảo Cồn-Cỏ (Quảng-Bình) đợi thời tiết thuận lợi và chờ nhận chỉ thị chi tiết về chuyến đi hoặc cán bộ trong Nam ra hướng dẫn, mới được phép lên đường vượt vĩ tuyến 17. Tất cả thủy thủ đoàn phải cải trang thành ngư phủ, mang theo giấy thông hành giả để dễ bề trà trộn với dân miền Nam, còn ghe tải hàng ngụy trang giống như ghe đánh cá địa phương xâm nhập. Ngoài sự kiện chịu đựng gian khổ nhiều ngày trên biển về sóng gió thay đổi bất thường, thủy thủ đoàn còn biết cách luồn lách qua nhiều hải đảo, tránh né tầm kiểm soát bờ biển của Hải quân miền Nam mới hy vọng hoàn thành kế hoạch đổ hàng đúng nơi quy định. Lời tục có câu “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”, cho nên có những chuyến đi mà thủy thủ đoàn không bao giờ trở về Quảng-Khuê nữa, vì bị bảo nhận chìm; cũng có chuyến mạo hiểm vào sát bờ bị Hải quân Duyên khu Đà-Nẵng bắt vào tháng 4 năm 1961. Điều này chứng tỏ khả năng hành thủy xâm nhập bằng đường mòn trên biển của Đoàn 759 vẫn còn yếu kém, mặc dù họ đã thành công một lần đổ hàng vào Vàm-Lũng (Cà-Mau) là nhờ có hoa tiêu Bông-Văn-Dĩa của Quân khu 9.
    Nhưng đến đầu năm 1963, Bộ tư lệnh Hải quân VNCH khai mở Chiến dịch “Sóng-Tình-Thương” tại Năm-Căn (Cà-Mau) làm cho Đoàn 759 hụt hẫng, đành phải tạm đình chỉ mọi chuyến xâm nhập bằng đường biển cho đến khi được cải danh là Đoàn 125 tàu không số (3).
    Bàn về khả năng thiếu kinh nghiệm đi biển của Hải quân CSBV, sử gia Spencer C.Tucker, trang 451 và 452 quyển Encyclopedia of Vietnam war, chứng minh là kể từ khi thành lập 1944 đến năm 1958, Lục quân CSBV đã gia tăng mức kỷ lục 380 ngàn quân. Mười năm sau, quân đội Hà-Nội đông đảo đứng hàng thứ 5 thế giới, chỉ nội Chiến dịch Tết-Mậu-Thân không thôi, họ cũng đã điều động đến 400 ngàn quân tiến đánh 39/44 thành phố và thị xã miền Nam. Như vậy, CSBV chỉ chú tâm bành trướng Quân chủng Lục quân mà thôi. Còn về Hải quân, cho đến năm 1959, Liên-Sô mới bắt đầu huấn luyện hải nghiệp cho thủy thủ đồng thời viện trợ một số công cụ bảo vệ hải phận như các Duyên phòng đĩnh trang bị đại bác 37 ly đơn trước mũi, Phóng ngư lôi đĩnh P4 trang bị 2 ngư lôi hai bên hông, một số Pháo duyên phòng di động trên bờ và vài Radar kiểm soát hải khẩu.

    b)- Ngày 14/09/1964, trong một buổi lễ trao quyền chỉ huy tổ chức tại bến cảng Bình-Đông, Hải quân CSBV được Trung ương đảng chỉ định đứng ra đảm trách công tác tải khí tài xâm nhập miền Nam bằng đường biển với 15 chiếc tàu sắt đánh cá, loại kéo lưới giả cào (Trawler) một trăm tấn, do Na-Uy (Norway) sản xuất. Qua sự thống thuộc hành chánh lẫn hành quân của Hải quân CSBV, Đoàn 759 cải danh thành Đoàn 125 đặt bản doanh K.20 Đoàn tàu không số tại cảng Đồ-Sơn, dưới sự chỉ huy của Trung tá Đoàn-Hồng-Phước, người huyện Cần-Đước tỉnh Long-An. Cũng vào giữa năm này, CSBV cho thành lập Bộ tư lệnh Hải quân do tướng Tạ-Xuân-Thu làm Tư lệnh (1964-1967), rồi đến Đại tá Nguyễn-Bá-Phát kế nhiệm (1967-1974). Tháng 11/1964, một tàu Trawler xâm nhập thành công tại vùng biển Bà-Rịa, tiếp tế khí tài cho Trung đoàn 761 thuộc Sư đoàn 9 CSBV, để đơn vị này đủ thực lực đánh trận Bình-Giả ngày 29/12/1964.
        Công việc tưởng chừng như suôn sẻ, nhưng “Sự kiện Vũng Rô” xảy ra ngày 18/02/1965, không chỉ là một tai nạn cho tàu xâm nhập Trawler 143 thuộc Đại đội K.35, mà còn là một thảm họa cho Đoàn 125 vận tải chiến lược đường biển của CSBV. Một tháng sau, Trung ương đảng đánh giá sự thất bại đổ hàng tại Vũng-Rô trong công tác tiếp tế cho mật khu Đại-Lãnh (Phú-Yên) là một tổn thất nghiêm trọng mang tính chiến lược, dẫn đến việc Đệ 7 Hạm đội Mỹ khống chế vịnh Bắc-Việt và Hải quân Việt-Mỹ tổ chức hành quân Market Time kiểm soát chặt chẽ bờ biển miền Nam, làm cho mọi tiếp tế bằng đường biển cho MTGPMN đều phải ngưng lại (4).
    Tàu Trawler xâm nhập lần đầu tiên bị phát hiện vào sáng ngày 16/02/1965, khi một trực thăng HU1B của Mỹ bay không thám bờ biển Vùng II Chiến thuật báo cáo về Vùng II Duyên-Hải là nghi ngờ có một tàu xâm nhập ngụy trang đang neo tại Vũng-Rô (Cap Verella, Tuy-Hòa). Sau khi phối kiểm cẩn thận, HQ/Thiếu tá Hồ-Văn-Kỳ-Thoại, Chỉ huy trưởng Vùng II Duyên-Hải khẩn cấp tổ chức hành quân liên quân chận bắt tàu địch vào sáng sớm ngày 18/02/1965. Tham dự cuộc hành quân gồm có: Hải vận hạm HQ.405 Tiền-Giang, Hộ tống hạm HQ.04 Tụy-Động, Hộ tống hạm HQ.08 Chi-Lăng II, Duyên đoàn 24, ba Tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh và một phi tuần Skyraider. Cuộc hành quân này thu được cả trăm tấn vũ khí đạn dược còn mới do Liên-Sô và Trung-Cộng sản suất gồm 4 ngàn khẩu súng đủ loại (cá nhân và cộng đồng), ba trăm ký chất nổ, hai ngàn đạn bích kích pháo, hai ngàn lựu đạn và một triệu viên đạn đủ loại.

      

        Vụ này làm cho Đoàn 125 Vận tải chiến lược đường biển phải đình động hơn một năm. Nhưng nhu cầu chiến trường miền Nam lúc nào cũng cấp bách, thêm vào đó là những phúc trình xin tiếp tế thượng khẩn của cục R liên tục gởi về, khiến Quân ủy Trung ương phải ra lệnh cho Đoàn tàu không số tái hoạt động trở lại vào tháng 5/1966. Kể từ sau sự kiện Vũng-Rô xảy ra, người ta không biết đích xác là Đoàn 125 đã cho bao nhiêu chiếc Trawler nữa lén lút xâm nhập vào Nam. Còn theo thống kê tháng 4/1972 của BTL/HQ/P3 của VNCH đúc kết từ các lực lượng Đặc nhiệm CTF.115 của Mỹ, LLĐN.213 của Hải quân VNCH và hành quân Không tuần P2V cho biết có 15 trường hợp tàu CSBV xâm nhập tiếp tế cho những Quân khu trong Nam bằng đường biển. Trên đường vào Nam trong mấy lần này, các tàu Trawler bắt buộc phải hải hành theo thủy trình quốc tế, tránh xa hải phận VNCH, rồi đợi lệnh hướng dẫn an toàn mới đâm thẳng vào vùng đổ hàng. Ngoại trừ những chuyến xâm nhập bất khả thi, đành phải mang hàng trở về miền Bắc để bảo mật, đã có 11 chiếc Trawler bị bắt, bị bắn chìm hay tự hủy nổ tại chổ vì không còn đường chạy thoát. Nhất là trong những ngày đầu tháng 3/1968, có đến ba chuyến cảm tử tiếp tế bằng đường biển để bổ sung khí tài cần thiết cho các Quân khu 5, 8, 9 đang bị tổn thất nặng trong Chiến dịch Tết-Mậu-Thân:
        1)- Tàu số 100, bị phát hiện ngoài khơi Rạch-Giá, xâm nhập cửa Bồ-Đề ngày 10/05/1966 bị chận bắt nên tự hủy nổ tung. (Hải quân CSBV cấm sơn con số này ngoài vỏ tàu).
        2)- Tàu Trawler xâm nhập vùng biển Ba-Động (Trà-Vinh), ngày 20/06/1966 bị bao vây, đành tự hủy.
        3)- Tàu số 187, bị phát hiện và bao vây ngày 20/11/1966 ngoài khơi cửa Hàm-Luông. Thủy thủ đoàn phóng hỏa tàu rồi dùng thuyền thúng bơi vào cù lao Minh và tẩu thoát vô chiến khu Cồn-Rừng (Thạnh-Phú). BTL/HQ/V3ZH cho kéo Trawler xâm nhập về Vũng-Tàu.
        4)- Trawler bị chận lại từ ngoài khơi của Bồ-Đề (Năm-Căn), tự hủy nổ chìm gần rạch Đường Keo ngày 01/01/1967.
        5)- Tàu số 43 bị máy bay không tuần phát hiện ngoài khơi Sa-Kỳ. Ngày 14/03/1967 bị bao vây tại mũi Ba-Làng-An (Batangan), Trawler cho nổ tung để bảo mật.
        6)- Tàu số 198 có nhiệm vụ đổ hàng cho Ba-Làng-An (Sa-Kỳ bị vây bắt ngày 14/07/1967, Thuyền trưởng và một số thủy thủ tử trận, tàu bị kéo về Đà-Nẵng. Hải quân VNCH tịch thu 80 tấn vũ khí và y dược.
        7)- Trawler miền Bắc xâm nhập bị mắc cạn tại vùng bờ biển phía Bắc Đà-Nẵng, không tháo cạn được nên tự hủy ngày 01/03/1968.
        8)- Tàu 235 lao vào mật khu Hòn-Hèo (Nha-Trang) đêm 01/03/1968 bị bao vây. Thuyền trưởng và thủy thủ đoàn gồm 14 người đều bị bắn chết tại chỗ. Hải quân VNCH tịch thu được 645 súng trường, 112 Tiểu liên và Đại liên.
        9)- Tất cả thủy thủ đoàn 15 người của tàu xâm nhập số 165 bị Hải quân VNCH loại khỏi vòng chiến trong cuộc chạm súng ngắn ngủi đêm 01/03/1968 tại cửa Bồ-Đề. Trawler nổ chìm giữa Bồ-Đề và Gành-Hào.
        10)- Trawler đang lén xâm nhập biển Ba-Động thì bị vây chặt. Biết mình không thể nào vượt thoát được, tàu xâm nhập cho nổ chìm ngày 15/07/1970, dưới hỏa lực xối xả của chiến hạm MSO USS. BRUSH và hai chiếc PCF của Hải đội 3 Duyên-Phòng.
        11)- Trawler số 645 đang chở 70 tấn hàng tiếp tế cho Quân khu 9 thì bị Khu trục hạm HQ.4 Trần-Khánh-Dư bắn chìm tại vùng biển Phú-Quốc ngày 24/04/1972. Trên 10 thủy thủ đoàn xâm nhập được Hải quân VNCH cứu sống trên biển trong cuộc trao đổi hỏa lực này.
        Theo quyển Tự điển Bách khoa Quân đội của Hà-Nội, thì CSBV không tiếc rẻ gì đến sự bỏ mình của hàng trăm đồng chí trên biển cả mà chỉ ân hận về sự mất mát hàng ngàn tấn chiến cụ dưới làn nước bạc; cũng theo họ, đây là tài sản mà các nước Xã hội Chủ nghĩa anh em đã thắt lưng buộc bụng đóng góp cho đại cuộc xâm lược miền Nam. Hơn nữa, có lẽ hiểu rõ được Thông điệp của Hải quân VNCH là cương quyết đánh chìm tất cả những tàu xâm nhập, trên mọi vùng biển kể cả hải phận quốc tế, nên đến cuối năm 1972 Bộ tư lệnh Hải quân Bắc-Việt bắt đầu khuyếch trương con đường xâm nhập chiến cụ qua hải cảng Sihanoukville bằng thương thuyền, đồng thời đưa Đoàn 125 Vận tải chiến lược đường biển vào công tác vớt mìn, vì Hải quân Mỹ đang phong tỏa hải cảng Hải-Phòng.

   

  

B.- MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM (MTGPMN, National Liberation Front for South Vietnam)
    1.  THÀNH LẬP CƠ CẤU MẶT TRẬN GPMN.
    Để thể hiện mục tiêu chiến lược thứ hai do Hồ-Chí-Minh đề ra trong Đại hội Đảng III là đấu tranh vũ trang thôn tính miền Nam, Bộ chính trị Trung ương đảng cho khai sinh một cơ cấu ngoại vi mới là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam vào cuối năm 1960. Danh xưng này đã được Chủ tịch quốc hội Trường-Chinh (Đặng-Xuân-Khu) nghiền ngẫm đề và Luật sư Nguyễn-Hữu-Thọ –  một đảng viên dấu mặt – thuộc thành phần rất năng nổ trong phong trào Hòa-Bình chống Pháp vào thập niên 50 được Bí thư thứ nhất Lê-Duẫn phê chuẩn cho làm Chủ tịch MTGPMN trong giai đoạn này. Theo ông Trương-Như-Tảng (bào đệ của Bác sĩ Trương-Như-Quýnh, nguyên Giám đốc Bệnh viện Sài-Gòn), từng giữ chức vụ Bộ trưởng Tư-Pháp của MTGPMN thì hôm 19/12/1960, nhân ngày kỷ niệm chống Pháp tại xã Tân-Lập, huyện Châu-Thành, tỉnh Tây-Ninh có cuộc họp mặt khoảng 50 người để thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam, danh xưng đã được đảng CSVN chấp thuận sẳn. Trong số tham dự, có ba đảng viên CS cao cấp là Huỳnh-Tấn-Phát (Tám-Chí) nhập đảng từ năm 1942, được bầu làm Đệ nhất phó chủ tịch và được Chủ tịch Nguyễn-Hữu-Thọ chỉ định làm Thủ tướng lâm thời; còn hai người kia là Bộ trưởng An ninh Trần-Bửu-Kiếm và Bộ trưởng Nguyễn-Văn-Hiếu. Chính ông Hiếu đã lặn lội ra tận Hà-Nội, tham khảo văn kiện căn bản "Đề cương cách mạng miền Nam" do Lê-Duẫn viết từ tháng 8/1956 để soạn ra bản Tuyên ngôn và Chương trình hành động 10 điểm theo Cương lĩnh của MTGPMN mà Chính phủ lâm thời miền Nam (The provisional revolutionary Government) phải thi hành (5).
    Trong khi chờ đợi sự bổ nhiệm chính thức nhân vật đầu não chính trị của MTGPMN, Trung ương đảng tạm thời chỉ định Trung tướng Trần-Nam-Trung (Trần-Lương, nguyên thủ lãnh phong trào Cộng-Sản Ba-Tơ, Quảng-Ngãi) xử lý thường vụ thủ trưởng Trung ương cục chính trị miền Nam hay cục R (COSVN=Central Office South Vietnam), kiêm luôn chức vụ Tư lệnh lực lượng vũ trang (National Liberation Forces) và bán vũ trang của MTGPMN. Không ngoài mục đích ngăn ngừa những cán bộ miền Nam (cán bộ Mùa Thu) còn hủ hóa về tư tưởng có thể hướng dẫn MTGPMN lệch lạc đi ra ngoài sự chỉ đạo nhất quán của đảng, tháng 1/1962 Trung ương đảng lại nặn ra cái gọi là đảng Nhân dân Cách mạng Việt-Nam, rồi hợp thức hóa việc đưa 10 Ủy viên thâm niên đảng tịch từ Bắc vào Nam gia nhập mặt trận để đóng khung tổ chức MTGPMN vĩnh viễn trực thuộc đảng CSVN.
    2.  TƯỚNG CSBV NGUYỄN-CHÍ-THANH
    Sau một thời gian dài qua sự chọn lọc của đảng, đến cuối năm 1964 Đại tướng Nguyễn-Chí-Thanh (tự Sáu-Vi, bút hiệu Trường-Sơn) được hậu thuẩn mạnh mẽ của Lê-Duẫn, rời Tổng cục chính trị miền Bắc vào Nam làm chủ nhiệm cục R thay thế cho tướng Trần-Nam-Trung, đồng thời thống nhất chỉ huy tất cả lực lượng vũ trang và bán vũ trang trên chiến trường B (6). Dưới sự thống lãnh theo nguyên tắc giáo điều ngay từ Bộ chỉ huy đầu não, tướng Thanh dễ dàng uốn nắn cục chính trị miền Nam thành một chi nhánh thuần thành của Tổng cục chính trị CSBV. Sở dĩ đảng nhất trí đề cử tướng Thanh vào Nam là do khả năng quân sự của ông ta được toàn thể Bộ chính trị đánh giá cao hơn khả năng chính trị, mà mấu chốt là "biết vận dụng kiến thức quân sự vào chiến trường". Nhận định trên đây của tập thể Bộ chính trị quả không lầm, bởi vì sau khi duyệt lại các trận đánh Ấp-Bắc (1963) và Bình-Giã (1964), tướng Thanh liền tung ra chiêu thức tác chiến mới khá phù hợp với chiến trường miền Nam vừa được Mỹ đổ quân là áp dụng chiến thuật du kích cấp Liên đoàn. Rồi tùy theo tình thế chiến trường, có thể trắc nghiệm thử lửa cho Lực lượng vũ trang tại mặt trận lên cấp Trung đoàn. Với tầm nhìn chiến lược về viễn ảnh tác chiến của MTGPMN, ông Thanh muốn các đơn vị chủ lực cũng như địa phương trong Nam phải được trang bị 100% bằng vũ khí tối tân hơn loại thời Đệ II Thế chiến, nhằm "Tiêu chuẩn hóa" vũ trang tổ ba người (Tertiary formation) ngõ hầu cải tiến chiến thuật cơ bản, đồng thời đơn giản hóa tiếp liệu về cơ phận thay thế vũ khí và đạn dược (7). Quân ủy trung ương CSBV chấp thuận kế hoạch này, nhưng Bộ trưởng QP Võ-Nguyên-Giáp lại cho rằng Trung ương cục miền Nam chưa biết áp dụng chiến thuật biển người cấp Trung đoàn để tạo chiến thắng, thay vì chỉ quan tâm đến cách đánh của Tiểu đội. Còn Trung tướng Lê-Trọng-Tấn (Lê-Trọng-Tố, Ba-Long), nguyên Tư lệnh đầu tiên Sư đoàn 312 cũng là Tư lệnh phó Lực lượng GPMN từ năm 1964, khi giữ chức Thứ trưởng QP kiêm Tổng TMT Quân đội CHXHCNVN (1978-1986), đã ca ngợi sự góp công lớn của Đại tướng Nguyễn-Chí-Thanh trong cuộc chiến chống Mỹ tại miền Nam, trên báo Quân đội Nhân dân tháng 12/1980, qua các khía cạnh quân sự (8) đại để như:
    a) Kết hợp thành công ba thứ quân.
        Đại tướng Thanh biết linh hoạt kết hợp ba thứ quân du kích, địa phương quân và chủ lực quân thích nghi với tình huống xảy ra trên cả ba chiến trường rừng núi, đồng bằng và thành phố theo giáo điều chiến lược "lấy núi rừng, nông thôn bao vây thành thị của Mao-Trạch-Đông". Trong thời gian nắm cục R, ông ấy chỉ phục chiến lược của tướng Nguyễn-Sơn (Vũ-Nguyên-Bác, nguyên Tư lệnh Liên khu 4) mà thôi, cho nên tướng Thanh bác bỏ chiến thuật biển người bằng luận cứ quân sự là MTGPMN thừa khả năng để đánh biển người, nhưng ở trong Nam còn có nhiều chiến thuật khác thắng Mỹ, tại sao lại phải khư khư thí quân một cách vô ích như vậy.
    b) Viết binh thư.
        Đại tướng Thanh còn viết lại kiến thức quân sự của mình thành binh thư để huấn luyện cán binh các cấp, chuẩn bị cho những trận đánh mở màng năm 1965 bằng những đề tài:
            - Mỹ giàu nhưng không mạnh vào mùa khô.
               Hỏa lực phi pháo của Mỹ hùng hậu hơn quân Pháp trước kia nhiều, nhưng theo tướng Thanh thì điểm mạnh của địch không đáng quan ngại vào mùa khô, vì thời tiết thuận lợi sẽ cho phép quân ta tập trung nhanh mà cũng phân tán nhanh tránh phi pháo. Ông ta cũng lưu ý đơn vị nên đề cao cảnh giác về kinh nghiệm và cảm quan tác chiến của Quân đội Sài-Gòn trên từng chiến trường. Với lập luận quân sự như vậy, tướng Thanh xác định chiến thuật du kích cấp Liên đoàn của lực lượng vũ trang MTGPMN vào mùa khô này sẽ biến thành chiến tranh cân não (war of nerves) và thật cay đắng đối với quân Mỹ cũng như quân đội Sài-Gòn.
            - Nắm thắc lưng địch mà đánh.
               Đại tướng Thanh ra lệnh cho bộ đội vận dụng chiến thuật "nắm thắt lưng địch mà đánh - The hugging tactic của quân đội Adolf Hitler trong Đệ II Thê-Chiến", để vô hiệu hóa phi pháo dữ dội của địch (quyển Encyclopedia of Vietnam war, sử gia Spencer C.Tucker ghi nơi trang 28, The General Thanh's way to fight the American was ro grab him by his belt, to get so close that his artillery and air power was useless). Ngoài ra, ông Thanh cũng dẫn chứng rằng trận Ấp-Bắc 1963 và trận Ba-Rài 1965, ta bắn cháy chiến xa và chìm giang đĩnh mà địch không dám can thiệp vì ta đang bám sát thắt lưng chúng. Mấu chốt tác chiến còn được tướng Thanh nhắc đến là giữ thế chủ động tại chiến trường để buộc đối phương phải chiến đấu theo ý muốn của mình. Một khi đã tiếp cận thắt lưng địch, ta phải đánh với cường độ thật mãnh liệt, kết thúc gọn và thu dọn nhanh chiến trường. Trung tướng Trần-Văn-Trà (Nguyễn-Chấn) được ủy nhiệm giám sát các đơn vị vũ trang miền Nam vận dụnh chiến thuật này vào chiến trường.
            - Tổ liên hoàn chống đổ quân.
               Sau ngày Mỹ đổ quân vào Việt-Nam (08/03/1965), chiến thuật trực thăng vận của địch là một trở ngại lớn đối với chiến thuật công đồn đã viện cố hữu của Lực lượng vũ trang miền Nam. Do đó, ngoài việc đặt mìn, cài chông chống người lên những bãi ước đoán là đối phương đổ quân tiếp viện bằng máy bay lên thẳng hay chiến đĩnh, Lực lượng vũ trang GPMN phải áp dụng chiến thuật tam giác liên hoàn tận diệt chúng. Một chiến thuật có sự liên kết hỏa lực mạnh mẽ hổ tương giữa ba tổ với nhau:
                  * 2 tổ B.40 và RPD đối diện nhau hai bên trục tiến quân của địch, tiếp cận ngay bãi đổ quân.
                  * 1 tổ súng cối 82 ly tại đỉnh của tam giác liên hoàn, sâu vào bên trong cách bãi đổ quân từ 8 trăm thước đến 1 cây số. (xem thêm chương X)
            - Đặt pháo gần bắn thẳng.
               Cũng theo ý kiến của Đại tướng Thanh, Pháo binh càng tiếp cận địch chừng nào thì hiệu quả bắn thẳng vào mục tiêu càng lớn. Phương châm tác chiến của Pháo cũng giống như Đặc-Công là luồn càng sâu, đánh càng hiểm, diệt đối phương càng nhiều.
    c) Bảo đảm an toàn căn cứ Chỉ Huy Miền.
           Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, người dân miền Nam được nghe nói nhiều đến sự an toàn của hai chiến khu C (Dương-Minh-Châu) và D (Đất-Cuốc, Lac-An) của Việt-Minh cách thành phố Sài-Gòn 80 cây số về phía Bắc. Nhưng kể từ khi Đại tướng Nguyễn-Chí-Thanh đảm nhiệm Bí thư Trung ương cục miền Nam (cục R) vào đầu năm 1964, thì hai chiến khu này chỉ còn sử dụng làm nơi huấn luyện tân binh hoặc kho dự trữ lương thực cho Lực lượng vũ trang Miền mà thôi. Đối với quan niệm an toàn bảo mật của ông ta, Không đoàn Pháo đài bay B.52 Mỹ ở đảo Guam (Hạ-Uy-Di) và phi trường Utabao (Thái-Lan) mới là mối quan tâm hàng đầu, bởi vì loại phi cơ này có mức oanh kích trải thảm mãnh liệt rộng lớn gấp hàng chục lần không quân Pháp trước kia; và liền theo sau đó là những cuộc hành quân trực thăng vận Tìm-Diệt (Searcg and Destroy Operation) thật khốc liệt càn quét chiến khu, nếu liên quân Việt-Mỹ dò biết được căn cứ Miền ở đâu. Do vậy, tướng Thanh quyết định đặt căn cứ BCH Miền (đầu năm 1968 cải danh thành Bộ TL Miền), lực lượng vũ trang MTGPMN và nội các Chính phủ lâm thời Huỳnh-Tấn-Phát đều nằm sâu vào biên giới Miên, nhằm tránh làm mục tiêu đánh phá hàng ngày của không quân Mỹ và đây cũng là thắng lợi đầu tiên của đảng Nhân dân Cách mạng Việt-Nam. Trải dài 90 cây số trên tuyến biên giới Việt-Miên từ đồn điền Mimot (Lưỡi-Câu), khu an toàn mọc lên như nấm, mang bí số thay cho địa danh như 352 (Lưỡi-Câu), 353 (Mimot), 707 (Tà-Nót), 354 ( Xóm-Giứa - Tapang), 706 (Mỏ-Vẹt)... Rồi Trung đoàn 760 được tách ra khỏi biên chế Sư đoàn 9 Bộ binh, đảm trách nhiệm vụ mới là bảo vệ yếu địa có căn cứ chỉ huy Miền. Chiến khu C trở nên nhộn nhịp nhận hàng tiếp liệu vào năm 1972, khi đường tiếp tế trên biển bị Hải quân VNCH phong tỏa chặc chẽ, lúc đó đường mòn Hồ-Chí-Minh lại khai thông đến tận Bình-Long.

            Theo lệnh triệu tập của Trung ương đảng CSVN, Đại tướng Nguyễn-Chí-Thanh rời nhiệm sở trở về Bắc vào tháng 7/1967, rồi đột ngột qua đời vì bạo bệnh tại bệnh viện Hà-Nội (9) và Phạm-Hùng thay thế ông ta làm Bí thư Trung ương cục miền Nam cuối tháng 8/1967.
           Bằng quyền lực đứng hàng thứ hai trong Quân ủy Trung ương, chỉ sau Bộ trưởng QP Đại tướng Văn-Tiến-Dũng, Thượng tướng Lê-Trọng-Tấn (thăng Đại tướng năm 1984) viết bài hồi ký 15 năm này không những để vinh danh tài trí song toàn của cố Đại tướng Nguyễn-Chí-Thanh, mà còn ngụ ý khuyên đàn em ông Võ-Nguyên-Giáp hãy dứt khoát loại bỏ người hùng Điện-Biên ôm ấp chiến thuật biển người lỗi thời cho rồi. Đặc biệt câu kết thúc, như câu điếu văn ngưỡng mộ mà ông Tấn đã ưu ái dành cho tướng Thanh; chắc chắn cho đến ngày nhắm mắt, ông Giáp khó mà được như vậy: "Sự ra đi của đồng chí Nguyễn-Chí-Thanh, lúc tài thao lược đang nở rộ đỉnh cao, quả là một mất mát to lớn cho Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt-Nam".

C.- OPLAN.34 - SỰ KIỆN ẢO TRONG VỊNH BẮC VIỆT.
    1. OPLAN. 34
    Cho đến nay, rất ít người biết rõ về Operation Plan 34.A, còn gọi tắt là OPLAN.34 trong chiến tranh Việt-Nam. Đây là một tổ chức tác chiến trên biển và đổ bộ lên bờ không chính thống (Unorthodox), một tổ chức rất đặc biệt của phòng 7 thuộc Nha Kỹ-Thuật/ Bộ TTM/Quân lực VNCH. Cho đến nay Pentagon (Ngũ-Giác-Đài) vẫn chưa chịu giải mật, nên những người quan tâm đến chiến cuộc Việt-Nam vừa qua cũng chỉ hiểu lờ mờ là vào năm tài chính 1963, bằng một ngân khoản khá lớn không nằm trong ngân sách viện trợ cho Việt-Nam, được Chính phủ Mỹ đổ vào kế hoạch này. Trước ngày bị ám sát chết ở Dallas, Texas (22/11/1963), Tổng thống John F.Kennedy đã cho CIA ngầm giúp Hải quân VNCH thành lập đơn vị đặc biệt Hải-Tuần (hoạt động trên biển) và Biệt-Hải (hoạt động trên bờ); cả hai cùng đồn trú chung một doanh trại tại bán đảo Sơn-Trà (Đà-Nẵng), dựng bản hiệu ngụy trang “Sở phòng vệ Duyên-Hải” bên ngoài. Đến tháng 2/1964, Sở mộ trên 150 nhân lực và nhận được 14 Khinh tốc đĩnh PTF chuyển giao đợt đầu từ Vịnh Subic của Philippines. Đây là loại chiến đĩnh kiểu Nasty gắn đại bác 40 ly Bofors, đóng tại Na-Uy (Norway), vỏ gỗ Mahogany, máy Napier Deltic của Anh, dài 24,5 thước, tốc độ tối đa 50 gút (hải lý/giờ), tầm hoạt động 860 hải lý. Khi chuyển giao, mối lo của Hoa-Kỳ là Hải quân VNCH dùng chiến đĩnh này đánh nhau với Hải quân Trung-Cộng, gây rắc rối trên biển Nam-Hải. Cho nên đối tác của Hải-Tuần – Studies and Observation Group trực thuộc MACV – kiểm soát rất chặt chẽ hoạt động, mỗi khi Khinh tốc đĩnh PTF vượt vĩ tuyến 17, lên phía Bắc đánh phá các hải đảo cùng bờ biển CSBV từ tháng 3/1964.
    Kế hoạch OPLAN không ngoài mục đích khiêu khích Hải quân CSBV đánh trả lại trên biển, tạo cơ hội tốt cho Đệ 7 Hạm đội Hoa-Kỳ tham chiến, ngõ hầu chính phủ Hoa-Kỳ có cớ leo thang chiến tranh và hợp pháp đổ quân Đồng-Minh vào tham chiến. Từ tháng 10/1966 đến tháng 10/1968, để hổ trợ cho đơn vị Hải-Tuần, Hạm đội 7 Hoa-Kỳ tổ chức Hành quân Sea Dragon nằm trong kế hoạch OPLAN, dùng chiến hạm bắn phá bờ biển Bắc-Việt đồng thời cũng góp sức với Hành quân Market Time trong Nam.
    Các nhà phân tích chính trị, quân sự đưa ra nhận định OPLAN.34 là bước ngoặt rất quan trọng mà chính phủ Johnson sử dụng cho ý đồ đem quân vào bán đảo Đông-Dương (10).
    2.  SỰ KIỆN ẢO TRONG VỊNH BẮC-VIỆT.
    Sau khi chiến tranh Triều-Tiên ngưng tiếng súng (27/07/1953) mà không có giải pháp chính trị nào được đôi bên đưa ra tại hội nghị Bà-Môn-Điếm để bảo đảm một nền hòa bình lâu dài cho thời hậu chiến trên bán đảo này. Do đó, Pentagon phải cho Đệ 7 Hạm đội mở điệp vụ trinh sát tầm xa, mang tên là Chiến dịch De-Soto (11). Một cuộc hành quân lâu dài gồm những công tác phối hợp quan trọng giữa chiến hạm, phi cơ và vệ tinh (1958 xuất hiện lần đầu) nằm trong chiến lược toàn cầu của Hoa-Kỳ nhằm bí mật kiểm soát an ninh vùng Đông-Á. Phần đông các tướng lãnh cao cấp Hải-Không quân Mỹ đều cho chiến dịch này là nhất cử lưỡng tiện: vừa theo dõi những cuộc điều quân ngầm của Trung-Cộng giúp cho Bắc-Triều-Tiên, vừa che chở cho đảo quốc Đài-Loan (Tưởng-Giới-Thạch) thoát họa Cộng-Sản.
    Nay CSBV đang phát động mãnh liệt cuộc chiến xâm lăng Nam-Việt-Nam, dĩ nhiên Pentagon phải trải dài Chiến dịch De-Soto xuống tận vịnh Bắc-Việt. Theo bản phúc trình của Đô đốc Ulysses S.Grant Sharp, Tư lệnh Đệ 7 Hạm đội Hoa-Kỳ, vào ngày 02 tháng 08 năm 1964, Khu trục hạm USS.731 Maddox đang thi hành điệp vụ nói trên, ngoài khơi Thanh-Hóa cách bờ biển 30 hải lý, lúc 15.00 giờ bị ba Phóng lôi đĩnh 333, 336 và 339 thuộc đoàn 135 Hải quân CSBV xuất phát từ Hòn-Mê tấn công. Maddox phải hải hành zic zac tránh 2 quả ngư lôi rất nguy hiểm đang phóng tới từ tàu địch, đồng thời bắn chìm một chiếc; hai chiếc còn lại xả hết tốc lực chạy về đất kiền. Hai ngày sau, Maddox cùng chiến hạm bạn USS Turner Joy trở lại vùng biển quốc tế hôm trước. Trưa ngày 04/08/1964, thời tiết quá xấu bởi những cơn mưa tầm tã, sương mù dày đặc, cả hai khu trục hạm Mỹ lại bị tàu đối phương tấn công lần thứ hai. Lần này không có tổn thất nào về phía Mỹ cũng như không ghi nhận được tổn thất nào của hải quân CSBV.
    Nhưng hậu quả phúc trình của Đô đốc Sharp trở thành nghiêm trọng, vì ngày 07/08/1964 Lưỡng viện Quốc hội Hoa-Kỳ đồng thông qua một nghị quyết cho phép Tổng thống được toàn quyền đánh trả, một khi quân đội Hoa-Kỳ bị tấn công trước. Dựa vào tác nhân này (catalyst), Tổng thống Johnson ra lệnh khai diễn Chiến dịch Pierce Arrow (Mũi tên xuyên), dùng hải và không quân oanh tạc dài hạn lãnh thổ Bắc-Việt; đồng thời Hoa-Kỳ cũng cho đây là cái cớ hợp pháp để đổ bộ Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 3 TQLC Hoa-Kỳ đang đồn trú tại Okinawa lên Đà-Nẵng ngày 08/03/1965, chỉ sau sự kiện Vũng-Rô có 19 ngày.
    Vào thời điểm Hải quân miền Bắc đánh tàu Maddox, mặc dù biết rõ đây là “trận đánh giả”, nhưng Bộ chính trị Trung ương đảng cũng cho phát động tuyên truyền lừa bịp khắp thế giới là Quân đội Nhân dân Việt-Nam anh hùng đã đánh đuổi được chiến hạm Mỹ xâm lược vùng biển Bắc và lấy ngày 04/08/1964 làm ngày truyền thống Hải quân, nhằm được các nước Cộng-Sản chiêm ngưỡng tinh thần kiên cường chống Đế quốc của VNDCCH mà tăng thêm viện trợ.
    Đầu năm 2008, Pentagon giải mật một số tài liệu về chiến dịch De-Soto, trong đó có sự kiện vịnh Bắc-Việt. Bộ QP Mỹ xác nhận sự việc xảy ra ngày 04 tháng 8 năm 1964 là “sự kiện ảo”, một sự khiêu khích đạt được sự biện minh cho mức leo thang chiến cuộc VN (A cause bellum is the Tonkin Gulf Resolution as the legal basis for the escalation policy in the VN war), để họ tự do oanh kích miền Bắc và đưa quân vào miền Nam. Giờ đây không rõ Hà-Nội có biết tài liệu giải mật này không? Chứ trước đây, Chủ tịch Hồ-Chí-Minh đã đồng ý với cái cớ Mỹ oanh tạc Bắc-Việt nên nhận chơi bạo để lấy tiếng là Quân đội Nhân dân VN anh hùng. Trong quyển Sự Thật về Quan hệ Việt-Nam, Trung quốc trong 30 năm qua của Hà-Nội 1979, NXB Sự-Thật cũng đã chỉ trích đồng chí sông liền sông núi liền núi của mình rằng: “Lấy vai vế đàn anh, từ lâu Trung-Quốc ngăn cản nước VNDCCH đương đầu với Đệ 7 Hạm đội Hoa-Kỳ trên biển Đông. Thế mà vào tháng 8 năm 1964, Hải quân Nhân dân ta đã dũng cảm đánh đuổi chiến hạm Đế quốc ra khỏi vịnh Bắc-Bộ”. Nếu sự thật không phải như vậy, tốt hơn hết là NXB Sự-Thật nên đổi tên thành NXB Hà-Nội Sự-Giả để các đảng viên trung kiên của đảng CSVN bớt phần hổ thẹn, khi đọc những tài liệu lịch sử do nhà nước CHXHCNVN phát hành.

Chú Thích
(1)- Tucker, Spencer C.Encyclopedia of Vietnam war.London 1993, trang 451: Thuyết Domino đã trải qua sự nghiên cứu của nhiều Chính phủ Hoa-Kỳ. Năm 1950 Chính phủ Truman bắt đầu nghiên cứu Thuyết Domino vì đó là một phần của Học thuyết Truman. Chính phủ Eisenhower kế tiếp chấp nhận lý thuyết Domino là chủ thuyết khả thi; đến năm 1954 cả hai Chính phủ Kennedy và Johnson đều áp dụng nó vào hàng rào chống Cộng-Sản tại các quốc gia Đông-Nam-Á. Quyển Webster's world Encyclopedia 2000 ghi lại ngắn gọn học thuyết nầy như sau: If one country fell to Communism , its neighbours were threatened with a chain reaction of Communism takeovers.
(2)- Đại tá Summer Jr. Harry. Vietnam war Almanac USA 1985, trang 196.
(3)- Nguyễn-Tư-Đương. Đường mòn trên biển. Hànội 2002, trang 5 đến 25.
(4)- Nguyễn-Tư-Đương. Đường mòn trên biển. Hànội 2002, trang 173.
(5)- Trương-Như-Tảng. Journal of a Vietcong. Uk 1986, từ trang 120 đến 135, ông Tảng nhấn mạnh phần sau đây: Khi gia nhập tổ chức của Luật sư Nguyễn-Hữu-Thọ, tôi không phải là một người đảng viên Cộng Sản VN. Phần lớn những người thâm niên đảng tịch mới được giữ các bộ quan trọng như Huỳnh-Tấn-Phát (Thủ tướng lâm thời), Trần-Nam-Trung (Bộ trưởng Quốc-Phòng), Trần-Bửu-Kiếm (Bộ trưởng An-ninh), Nguyễn-Thị-Bình (Bộ trưởng Ngoại-Giao), Lưu-Hữu-Phước (Bộ trưởng Văn-Hoá), Đồng-văn-Cống (Bộ trưởng Chiến-Binh), Dương-Huỳnh-Hoa (Bộ trưởng Y-Tế) ... Còn những người khác như tôi chẳng hạn, chỉ là bình phong để che đậy bản chất đảng CSVN ở bên trong. Sau một thời gian dài, tôi thấy mình không thể nào tuân thủ chủ thuyết Mac-Lenin ngoại lai để đè đầu cưỡi cổ dân miền Nam được, cho nên tôi quyết chí tìm cơ hội đào tị.
(6).- Tự điển Bách khoa QSVN.Hànội 2004, trang 239.:
       Tên quy ước mà Quân ủy Trung ương đặt cho chiến trường miền Nam là chiến trường B. Dĩ nhiên trong kế hoạch chỉ đạo tác chiến, QUTU cũng quy ước: A là Bắc-Việt, C là Lào, và K là Kampuchia. Để nắn vững hoạt động chiến trường, B lại được chia thành B1 và B2. B1 gồm các tỉnh phía Bắc tỉnh Khánh Hòa và tổ chức quân sự trên chiến trường tại đây thuộc Liên khu 5. Còn B2 gồm có các tỉnh Nam-Bộ (Ninh-Thuận, Bình-Thuận, Quảng-Đức, Tuyên-Đức, Lâm-Đồng) và tổ chức quân sự trên chiến trường B2 là: Quân khu 6 ( cực Nam Trung Bộ), Quân khu 7 (Đông Nam Bộ), Quân khu 8 (Trung Nam Bộ), Quân khu 9 (Tây Nam Bộ) và sau cùng là quân khu Saigon-Gia Định. Tổ chức quân sự nầy được Quân ủy Trung ương xem là sự kết hợp chặt chẽ các lực lượng vũ trang trên chiến trường bằng ba thứ quân. Bộ đội chủ lực từ cấp Trung đoàn lên Sư đoàn trực thuộc hẳn Bộ QP hay Quân khu. Bộ đội địa phương cấp Tiểu đoàn thuộc Tỉnh đoàn, cấp Đại đội thuộc Huyện đội. Dân quân du kích cấp Trung đội thuộc Xã đội. Theo tiêu lệnh chung thì Bộ đội địa phương và Dân quân du kích chỉ tác chiến cơ động trên địa bàn nhà.
(7)- Bí thư Trung ương cục miền Nam Nguyễn-Chí-Thanh, qua nhiệm kỳ của mình đã thành công trong kế hoạch thật khó khăn là cải tiến vũ trang và chiến thuật tổ ba người, làm năng suất tác chiến Việt-Cộng gia tăng cho Chiến dịch Tết-Mậu-Thân. Thật vậy, ngưòi bí thư tiền nhiệm (1961-1964) Trung tướng Trần-Nam-Trung, ba năm về trước đã phải ngán ngẩm về tiếp liệu đạn dược và cơ phận thay thế cho một kho vũ khí hỗn tạp do mười quốc gia sản xuất từ thời Đệ I và II Thế chiến mà quân MTGPMN hiện còn sử dụng.Theo nhận định của học giả hàng đầu về chiến tranh VN là Douglas Pike và ký giả chiến trường Martin Windron ( tác giả quyển The France Foreign Legion. UK 1981) nhờ trang bị AK, RPD, B.40 mà hỏa lực Việt-Công vượt trội hơn QLVNCH đang xử dụng vũ khí Mỹ thời đệ II Thế chiến như Garand, Carbin, FM Bar... trong những trận đánh 1968; nhưng tinh thần chiến đấu của QLVNCH cao hơn đối phương nhiều. Đến trận Hè-Đỏ-Lửa 1972, mặc dù áp dựng chiến thuật cổ điển, nhưng CSBV lại tung ra chiến trường những loại vũ khí hạng nặng, tối tân, có tầm sát thương lớn do Liên-Sô viện trợ không giới hạn như Hỏa tiển SA.7, AT.3, 122 ly D.74, Đại bác 130 ly M.46 (tầm bắn 32 cây số) và Chiến Xa T.54. Trái lại, viện trợ cho VNCH xuống thấp, khắc tinh của các chiến cụ Liên-Sô là không yểm của QLVNCH bị suy giảm rõ rệt; chắc chắn trong những ngày tới quân đội miền Nam sẽ phải đương đầu với đối phương mỗi lúc một khó khăn và nguy hiểm hơn.
(8)- "Người Đồng chí kiên cường ", bút ký của Thượng tướng Lê-Trọng-Tấn đang giữ chức Tổng tham mưu trưởng Quân đội CHXHCNVN kiêm Thứ trưởng QP được Đại tướng Bộ trưởng QP Văn-Tiến-Dũng bật đèn xanh cho đăng trên báo QĐND tháng 12/1980, không ngoài mục đích hạ uy tín của Đại tướng Võ-Nguyên-Giáp, trong khi đàn em của ông Giáp muốn khôi phục lại quyền lực cho đàn anh mình. Những đảng viên kỳ cựu đều biết, sau cuộc chiến Biên giới Việt-Trung (17/02 đến 16/03/1979) thì đời binh nghiệp giáo điều theo Trung-Cộng của nguyên Tổng TMT (1946-1975) kiêm Bộ trưởng QP (1948-1979) Võ-Nguyên-Giáp đã đi đến chỗ cáo chung. Bài viết nầy bởi nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ thời Sư đoàn 312 do Tấn làm Tư lệnh. Trần-Độ (Trần-quốc-Vinh) làm Chính Ủy và Hoàng-Cầm (Đỗ-Văn-Cẩm) làm Trung đoàn trưởng 209/SĐ.312 tham dự Chiến dịch Điện-Biên. Ngày 07/05/1954, Hoàng-Đắc-Vinh và Tạ-Quốc-Luật thuộc Trung đoàn 209 theo giao thông hào luồn sâu vào Sở chỉ huy Mường-Thanh, bắt sống được tướng De Castrie. Sau đó, tướng Giáp bị Tấn khiếu nại là đã thuởng phạt bất công đối với anh hùng Tạ-Quốc-Luật. Ông Giáp nhỏ nhen thâm độc ghìm việc nầy trong bụng, rồi đợi dịp lưu đày cả ba thầy trò Tấn, Độ và Cầm vào B2 cho mất xác. Còn nguyên nhân thứ hai, có lẽ tướng Tấn muốn đền đáp lại tấm lòng đại lượng của tướng Thanh chăng? Mười lăm năm trước, ông Tấn được chỉ định làm Tư lệnh Chiến dịch Đồng-Xoài (ngày 8-10/06/1965) có Trần-Độ và Hoàng-Cầm phụ tá, dùng hai Trung đoàn 762 (2) và 763 (3) đánh vào trại Lực lượng Đặc biệc Mỹ để chiếm Chi khu Đôn-Luân (Đồng-Xoài thuộc tỉnh Phước Long). Nhưng trận đánh điểm diệt viện không đạt được mục tiêu yêu cầu vì tổn thất quá nhiều quân dưới phi pháo địch. Thay vì khiển trách cả ba, tướng Thanh chỉ ra lệnh làm kiểm điểm chiếu lệ, không những bỏ qua lỗi lầm mà còn đề bạt ba tướng thất trận nắm chức vụ cao hơn trong tổ chức MTGPMN. Đây là việc làm thẳng thắn và trung thật, nên tổng TMT Tấn không bị sự chống đối nào về phía Quân đội Nhân dân.
(9)- Trên đường trở về Bắc theo lệnh trung ương đảng, Đại tướng Nguyễn-Chí-Thanh đã qua đời vì bạo bịnh tại bệnh viện Hà-Nội vào giữa tháng 6/1967 (nguồn tin từ Đại tá CSBV Bùi-Tín, người đăng lời phân ưu với gia đình Đại tướng Nguyễn-Chí-Thanh trên báo QĐND vào thời điểm đó), chứ không phải như nguồn tin của đài BBC loan đi là tướng Thanh đã chết trong một cuộc cường kích của B.52 về phía Bắc Sàigon. Còn theo ông Hoàng-Văn-Hoan trong Hồi ký viết tại Bắc-Kinh 1986. "Giọt nước trong biển cả" thì tướng Thanh bị Pháp bắt nhiều lần (1938-1943) khi giữ chức Tỉnh Ủy Thừa Thiên. Không chịu nổi tra tấn, có lần ông ta tiết lộ cơ sở Cộng-Sản ở Huế với mật thám Pháp khiến khung cán bộ bị tổn thất nặng nề. Nay Trưởng ban tổ chức Lê-Đức -Thọ lại hậu thuẫn cho Đại tá CSBV Võ-Hồng-Cường tố cáo việc nầy, buộc Lê-Duẫn phải triệu hồi Thanh để khử đi.
(10)- Olson James. Dictionary of the Vietnam war. NY 1988, trang 180 ghi: "President Lyndon B. Johnson found the OPLAN. 34A and the Gulf of Tonkin incident politically useful, because it justified a large scale American attack on North VN, boosted South morale, and rallied support back at home. In advance, US Navy staged a provocation in this Gulf for a pretext to eventually bomb North VN".
       Như vậy, trong suốt 7 năm thi hành OPLAN. 34A, Lực lượng Hải-Tuần đã vượt vĩ tuyến 17 lên biển Bắc với hơn hai ngàn hải xuất, bắn phá nát những cứ điểm Hải quân của CSBV như Cửa Hội (Vinh), Cửa Gianh (Quảng Bình), Lạch-Trường (Thanh-Hoá), Bãi-Cháy (Quảng-Ninh), kho dầu Nghệ-An, đảo Cồn-Cỏ, Hòn-Én, Hòn-Mật, Hòn-Ngự, Hòn-Mê, đảo Bạch-Long-Vỹ... Ngoài tai nạn không may xảy ra cho HQ/Đại uý Lưu-Chuyên và HQ/Đại-úy Liên-Phong (đều xuất thân từ khoá 8 SQHQ/Nha-Trang) vào tháng 6/1966, thành tích chủ động hải chiến oai hùng của các thủy thủ đoàn PTF/Lực lượng Hải-Tuần rất đáng được ghi vào quân sử QLVNCH, dù rằng tổ chức nầy không được công nhận là chính thống.
(11)- De-Soto là tên của nhà thám hiểm Tây-Ban-Nha Fernando De Soto (1496-1542), người đầu tiên khám phá ra ảnh hưởng lưu vực của con sông Mississippi với đời sống dân chúng Hợp-Chủng-Quốc vào năm 1541. Sau nầy Pentagon đặt tên cho các Chiến dịch điện tử viễn thám dài hạn do Hải-Không quân Hoa-Kỳ thực hiện là Kế hoạch De-Sato.



30-06-2009

TỬ SĨ HOÀNG SA
Anh hùng Ngụy Văn Thà

QUỐC KỲ và QUỐC CA VN

Bài chọn đăng
Đại Sứ Mỹ J. C. Stevens
Chuyến hải hành sau cùng HQ
TT Thiệu với Hải chiến HS
Báo Tàu: Hải chiến Tây Sa74
Thủy xa vận mới EFV của Mỹ
Chiến Hạm HQ/VNCH di tản 75
Vì sao mất Thác Bản Giốc?
Đường Mòn Hồ Chí Minh
Tàu chiến tàng hình của Mỹ
Tiên Lãng: Đối kháng vũ lực
Your IP : 162.158.63.165    Hải QuânHải Quân VNCHTài liệu Hải Quân VNCHDiễnbiến khiến Mỹ thamchiến  

Copyright © 2003 - 2017 hqvnch.net
Website: 8873390 hits Page generated in: 0.0625 secs Webmaster