Sử Liệu mới về Trận Chiến Điện Biên Phủ
(Nhân ngày 7 tháng 5 năm 1954, Điện Biên Phủ thất thủ. Để làm sáng tỏ hơn những tài liệu do Đảng CSVN đã tung ra nhằm đánh bóng tuyên truyền bấy lâu nay, xin giới thiệu với quí độc giả bài biên khảo này của tác giả Nguyễn-văn-Ơn (K11/SQHQ/NT) đã dày công sưu tầm để góp thêm tư liệu lịch sử hiếm quí cho các sử gia sau này)
Nguyễn văn Ơn
Sau 55 ngày đêm bắn giết đẫm máu, cứ điểm Điện-Biên-Phủ thất thủ ngày 7 tháng 5 năm 1954. Ngay từ khi khởi diễn trận đánh cho đếm lúc kết thúc, hòan tòan không có lực lượng Hải quân hoặc đòan Tuần giang của Quân đội Liên-Liệp-Pháp tại Bắc-Việt tham dự. Sở dĩ trận Điện-Biên-Phủ được nhắc lại trong tập Hành quân Sông-Ngòi vì đây là trận thư hùng quyết định cho chiến trường Đông-Dương. Sự đầu hàng của Thiếu tướng De Castries, chỉ huy trưởng pháo lũy bất khả xâm phạm, đã làm cho nước Pháp thảng thốt và điếng người. Rồi Pháp lại lạm quyền đơn phương ký kết Hiệp định Genève với Việt-Minh Cộng-Sản (VMCS) về đình chiến, trái với nguyện vọng độc lập và thống nhất của dân tộc Việt-Nam vào ngày 20 tháng 7 năm 1954 qua các điều khoản chính là: - Ngưng bắn trên toàn thể bán đảo Đông-Dương. - Chia đôi đất nước Việt-Nam tại vĩ tuyến thứ 17 và quân đội Liên-Hiệp-Pháp phải rút vô Nam, phía dưới đường ranh giới tuyến ấn định trước khi rời khỏi Đông-Dương. Sau 2 năm sẽ có tổng-tuyển-cử thống-nhất đất nước… Bàn về trận Điện-Biên-Phủ, trước năm 1975 có rất nhiều tài liệu một chiều của Pháp hoặc của các quốc gia thân Cộng đề cập đến một cách nhàm chán. Độc giả không thể nào hình dung ra chỉ một trận đánh mà lại có đến năm, sáu bài tường thuật khác nhau về tổn thất đôi bên. May thay, trong thập niên sau cùng của thế kỷ 20, nhiều sử liệu lien quan đến trận Điện-Biên-Phủ được giải mật từ cựu tướng Liên-Xô Dimitri Volkogonov, giám đốc văn khố Moscow và nữ sử gia Sophia Quinn Judge với mục tiêu làm sang tỏ người và việc. Tại Trung-Nam-Hải, song hành với việc dạy cho Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam (CHXHCNVN) một bài học năm 1979, văn khố “Mật” Bắc-Kinh cùng với sự phụ họa của những cán bộ Cộng-Sản VN cao cấp đào thoát như Hoàng-Văn-Hoan, Bùi-Tín, Hoàng-Minh-Chính, Trương-Như-Tảng …. tiết lộ sự viện trợ to lớn về vật chất lẫn tinh thần của Trung-Cộng để Cộng-Sản Việt-Nam chiến thắng hai cuộc chiến vừa qua. Sự vạch trần đã đem lại nhiều hứng khởi cho các nhà quân sử và giúp cho họ có cái nhìn lại đa diện hơn về tương quan lưc lượng, chiến thuật, chiến lược của đôi bên đã bị dấu kín ngay từ thời buổi đó. Dĩ nhiên, ảnh hưởng của trận Điện-Biên-Phủ đến chiến cuộc 1960-1975 tại miền Nam VN là điều không thể phủ nhận được, điển hình là trận vây quanh Khe-Sanh đầu năm 1968, nơi mà tướng Võ-Nguyên-Giáp muốn tái tạo một mô hình Điện-Biên-Phủ thứ hai, nhưng bất thành. Cũng theo bà Judge thì: “kẻ chiến thắng luôn luôn dùng quyền lực che đậy tội ác trong những cuộc chiến bạo tàn. Để có bản phán quyết đúng mức của lịch sử nhân loại, nên bất kỳ ai biết được việc làm của họ đều có bổn phận phải tố giác”. Những dữ-kiện và nhận định mới mẽ sau đây về trận Điện-Biên-Phủ, không đi ra ngoài mục tiêu chính đã đề ở trên, được người sưu tập cân nhắc và cẩn trọng ghi nhận để góp ý với những nhà viết Việt sử sau này.
* * *
Gần một tháng cầm quyền, không có một chút nào về kinh nghiệm chiến trường Đông-Dương trong khi Pháp chỉ còn kiểm soát được 60% vùng đồng bằng, tướng Navarre hết sức thất vọng. Mặc dù công nhận đồn Na-San có phòng thủ tốt nhưng đang bị bao vây và chới với đơn độc giữa miền Tây-Bắc thượng du; do đó Navarre quyết định rút bỏ căn cứ này bằng một cuộc triệt thoái bí mật. Thừa hành lệnh trên, chỉ trong vòng 3 ngày, Trung tướng Rène Cogny, Tư lệnh Lục quân Pháp tại Bắc-Việt đã hoàn tất cuộc không vận tập thể rút lui quân trú phòng về Hà-Nội an toàn bằng 130 phi vụ. Kế đó, Navarre đưa ra kế hoạch 6 tháng mang tinh thần chống Mỹ hơn chống VMCS, được giới chức Pháp tại Saigon xem là phù hợp với tình hình chính trị và quân sự khó khăn bây giờ (1): - Trở lại chiến thuật phòng ngự, tránh giao tranh lớn, chỉ mở những cuộc hành quân cấp trung đoàn để bảo vệ thành phố và vựa lúa đồng bằng. - Ổn định miền Nam và miền Trung trước, sau đó sẽ có chương trình bình định toàn miền Bắc. Áp dụng chiến lược co cụm mãi như vậy thì làm sao tránh khỏi búa rìu phê phán từ mẫu quốc, nên Navarre và Ban tham mưu của mình, sau 3 tháng nghiên cứu đã đi đến quyết định chọn làng Điện-Biên-Phủ thuộc tỉnh Lai-Châu làm nơi sống mái với lực lượng VMCS. Đây là thung lũng lòng chảo Mường-Thanh còn gọi là Mường-Then có diện tích 150 Km2 tọa lạc sát biên giới Việt-Lào cách thị xã Lai-Châu 80 Km về phía Nam mà VMCS đã chiếm vào tháng 11 năm 1952. Với chiều dài 17 Km, rộng 9 Km, Điện-Biên-Phủ nằm gọn giữa khu núi đồi thiên nhiên bao kín chung quanh. Theo sự nhận định của Navarre thì nơi đây đúng là một vị trí quân sự thiên nhiên mà Nhật đã chiếm đóng và mở hai phi đạo trong thời Đệ II thế chiến. Ông ta nhấn mạnh, nếu củng cố nơi này lại thì nó sẽ trở thành một cứ điểm chiến lược cho chiến thuật “đóng mà đánh - tỉnh mà động” bằng ưu thế phi pháo, thiết giáp và phi cơ với phi trường dã chiến (airstrip Mường-Thanh và Hồng-Cúm) để chận yết hầu con đường tiếp viện Lai-Châu Tuần-Giáo sang thượng Lào. Mặc dù hiện tại quân Pháp chưa nắm được lưới tình báo nhân dân địa phương nhưng khuyết-điểm này bù đắp được bởi phòng Nhì Pháp sẽ cung cấp mọi tin tức về hoạt động địch trong vùng. Khi được hỏi về việc chiếm đóng này, tướng Cogny lắc đầu không đồng ý: “Rồi cũng phải rút bỏ như Na-San mà thôi”. Giữ vững lập-trường của mình, tướng Navarre một mặt phúc trình về mẫu quốc để xin chấp thuận, một mặt ráo riết chuẩn bị chiếm đóng và tái thiết Điện-Biên. Phiên họp đầu tháng 11 năm 1953, Nội các Pháp chấp thuận kế hoạch Navarre. Thủ tướng Laniel hy vọng tướng Giáp chấp nhận các trận đối diện tiếp chiến (Frontal attack) tại Điện-Biên để viên Tổng tư Lệnh Đông-Dương có cơ hội giành thắng lợi, buộc đối phương phải đồng ý ngồi vào bàn đàm phán trong lúc Pháp ở trên thế thượng phong. Ngày 20 tháng 11 năm 1953, Navarre ra lệnh cho Cogny khai diễn cuộc hành quân Castor. Đại tá Gilles, chỉ huy trưởng gan lì của chiến đoàn Lê-Dương cùng 2.200 quân Dù ưu tú nhảy xuống và bắt gọn 2 Đại đội VMCS đang trấn đóng trong lòng chảo. Đúng như kế hoạch hành quân, ngày hôm sau quân Pháp bắt đầu khai quang toàn bộ thung lũng, mở rộng thị trường quan sát và tác xạ từ khu trung tâm chỉ huy đến tận chân núi. Địa hình độc đáo nơi đây là điểm mà Navarre tâm đắc nhất, vì trung tâm chỉ huy cứ điểm nằm an toàn ngoài tầm pháo địch; muốn tấn công, địch phải chấp nhận những trận đánh qui ước (pitched battle) bằng chiến thuật công kiên chiến (attack on fortified position) vào 8 pháo đài bê tông cốt sắt nằm trong thế liên hoàn vững chắc (mutual linked up position). Quân VMCS lại không thể nào có được sự tiếp tế nhanh chóng bằng vận tải cơ như quân Pháp. Hơn nữa lực lượng trú phòng còn có thể tấn công ra ngoài với sự yểm trợ của chiến xa, phi cơ và pháo binh để loại một, hai sư đoàn địch ra khỏi vòng chiến. Nói chung, mặt trận Điện-Biên ít ra cũng cầm chân một vài sư đoàn VMCS tại đây và làm giảm áp lực địch trong vùng đồng bằng. Mười ngày sau, Đại tá Gilles trao quyền chỉ huy cứ-điểm lại cho Đại tá Thiết giáp De Castries. Đến ngày 7 tháng 12 năm 1953, Navare lại rút bỏ đồn Lai-Châu, đưa 3 tiểu đoàn Bộ binh do Trung tá Trancart chỉ huy về tăng cường thêm cho cứ điểm Điện-Biên.

A.- TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG. Để có cái nhìn đa diện, tương quan lực lượng đôi bên được đúc kết qua các tài liệu chọn lọc như: - Phúc trình cuối tháng 12 năm 1953 của Đại tướng Navarre. - Trận Điện-Biên-Phủ của sử gia Spencer C.Tucker. - Vietnam At War của Trung tướng tình báo Phillip B.Davidson. - Nation in armes của Greg Lockhart. - Việt-Nam 30 năm máu lửa của học giả Cao-Thế-Dung. - Lịch sử Việt-Nam Giản yếu của một nhóm giáo sư – Hà-Nội 2000. - Sự Thật về Quan hệ Việt-Nam Trung-Quốc trong 30 năm qua. - Giọt Nước Trong Biển Cả của Hoàng-Văn-Hoan. - Từ điển bách khoa QSVN. Hà-Nội 2004, trang 168. 1. Lực-Lượng Liên-Hiệp-Pháp. Đầu năm 1954, Đại tá De Castries chỉ huy trưởng cứ điểm Điện-Biên đã hoàn tất tổ chức 3 Phân khu chiến thuật và bố phòng 8 đồn liên hoàn mang tên 8 người đẹp như Isabelle, Claudine, Dominique, Gabrielle, Beatrice….. bằng 13.000 quân của 14 Tiểu đoàn trong đó có 4 Tiểu đoàn Dù Lê-Dương và 1 Tiểu đoàn Dù Việt-Nam, tiểu đoàn đầu tiên của Quân đội Quốc gia Việt-Nam (QGVN). Bộ binh hiệp đồng quân binh chủng với: - Pháo binh diện địa và chiến thuật: 4 khẩu 155 ly, 24 khẩu 105 ly và 140 súng cối từ 60 ly đến 120 ly - Thiết giáp: 1 Đại-đội gồm 10 chiến xa nhẹ loại M.24 Chaffer. - Không quân: 1 Phi đội đặc biệt gồm 6 oanh tạc cơ B19 Bearcat và 10 trinh sát cơ Morane đặt trực tiếp dưới quyền Chỉ huy trưởng căn cứ Điện-Biên. - Mỗi Binh đoàn trấn đóng một phân khu trong lòng chảo này. - Tổng lực 20 tiểu đòan tham chiến với quân số từ 14.000 đến 14.500 người. - Cũng vào thời điểm trên đây, Tư lệnh Lục quân Mỹ ở Thái-Bình-Dương, tướng John W. O’ Daniel đến thăm cứ điểm rồi nhận định Điện-Biên là một pháo lũy bất khả xâm phạm. 2. Lực-Lượng Việt-Minh Cộng Sản (VMCS). Phản ứng của VMCS là Quân ủy trung ương ban hành chiến dịch Điện-Biên-Phủ từ ngày 13/03/1954 đến ngày 07/05/1954. Nhưng không đúng như ước đoán của tướng Navarre là lực lượng địch sẽ tham chiến tại đây nhiều lắm là 2 sư đoàn bộ binh, tướng Giáp tung 5 Sư đoàn bộ binh vào trận địa gồm: 304, 308, 312, 316 và Sư đoàn Công pháo 351 (2). Tổng lực 72.000 quân chính quy (gắp 5 lần quân Pháp), hợp đồng tác chiến với: - Trung đoàn Đặc công đánh tiếp cận. - 200 khẩu pháo được kéo lên núi để rót vào lòng chảo. - Tiểu đoàn Hỏa tiễn Địa đối Không 16 giàn, mỗi giàn nâng 6 nòng kiểu Orgues de Staline (Liên-Xô viện trợ lần đầu cho VMCS). - 13,000 quân tiếp liệu hậu cần và 30,000 dân công chiến trường để đào địa đạo, hào ngầm và vận tải lương thực đạn được. - 10.000 bộ đội địa phương trừ bị. Tổng tư lệnh chiến trường, tướng Giáp cùng các cố vấn Trung-Cộng Vi-Quốc-Thanh, Lã-Quý-Ba… đều có mặt tại bộ chỉ huy tiền phương Mường-Phăng để đôn đốc tác chiến. Trước khi ban hành lệnh khai pháo mở màn trận đánh, tướng Giáp chuẩn bị khá chu đáo. Dĩ nhiên ông ta không thể nào quên được những tổn thất lớn lao mà Hải quân và Không quân Pháp đã gây ra cho quân đội mình trong mấy trận đánh vừa qua như trận Mạo-Khê, trận Ninh-Bình …vv…. Mặc dù kỳ đọ sức này xảy ra trên miền thượng du khiến Hải quân Pháp trở thành bất khiển dụng nhưng Không quân Pháp vẫn còn là mối đe dọa thường trực lên quân đội VMCS. Để giảm phần nào khả năng tham chiến của bọn giặc trời, vào các đêm 3 và 6 tháng 3 năm 1954, Trung đoàn trưởng Đặc công Hoàng-Minh-Chánh (3) được lệnh của Giáp đánh bộc phá vào phi trường Gia-Lâm (Hà-Nội) và Cát-Bì (Hải-Phòng), phá hỏng trên 60 phi cơ của Pháp, trong đó có 38 phóng pháo cơ B19 Bearcat, B26 Marauder và một số vận tải cơ C47. 3. Tóm Lược Diễn-Tiến Quan Trọng Trận Đánh. # Chiều ngày 12 tháng 3 năm 1954, Tướng Giáp ra lệnh đồng loạt mở cuộc tổng tấn công. Sư đoàn 312 tấn kích đồn Beatrice, Sư đoàn Công pháo 351 tác xạ thăm dò mức độ phòng thủ các đồn còn lại. Đồng thời Sư đoàn 320 cũng được lệnh đánh giao thông, cắt đứt nhiều đoạn con đường huyết mạch số 5 Hà-Nội - Hải-Phòng. Như thế, tướng Giáp buộc Cogny phải đương đầu hai mặt trận cùng một lúc. # Ngày 15 tháng 3 năm 1954: Cả hai đồn Beatrice và Gabrielle đều bị VMCS chiếm đóng sau nhiều đợt tiền pháo hậu xung biển người. # Ngày 18 tháng 3 năm 1954: Đồn Anne Marie lại bị quân VMCS tràn ngập. # Ngày 27 tháng 3 năm 1954: Sư đoàn Công pháo 351 hoàn toàn khống chế phi trường dã chiến chính và phụ. Vào thời điểm này, quân trú phòng bị vây hãm chỉ còn tiếp xúc với bên ngoài qua máy truyền tin và vận tải cơ C47 Dakota thả dù tiếp tế mà thôi. Khổ nỗi lưới phòng không của địch lại dày đặc, phi cơ phải bay cao mỗi khi tiếp tế, thành thử phần lớn dù rớt xuống khu VMCS đang chiếm giữ tiếp tế luôn cho họ. # Ngày 3 tháng 4 năm 1954: Tổng-thống Eisenhower từ chối yêu cầu giải vây cho Điện-Biên của chính phủ Pháp, với lý do là Mỹ không thể dùng Sư đoàn Không quân B29 chiến lược đang đóng tại phi trường Clark (Phi-Luật-Tân), vì Anh quốc không chịu tham gia. Vào giữa tháng 4, ngoại trừ khu trung tâm Bộ chỉ huy, các đồn chung quanh đều lọt vào tay địch. Quân trú phòng trong tình trạng tuyệt vọng nhưng chiến đấu rất dũng cảm. # Ngày 25 đến 30 tháng 4 năm 1954: Bộ tư lệnh chiến dịch Điện-Biên họp khẩn vì tinh thần tác chiến bộ đội VMCS xuống thấp với mức thương vong trên 20.000 trong những ngày giao tranh vừa qua. Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra tận mặt trận tổ chức học tập tại chỗ. Tướng Giáp phải thay đổi chiến thuật đánh nhanh giải quyết nhanh sang đánh chắc, tiến chắc bằng chiến thuật “địa đạo vây lấn” (surrounding tunnels warfare)(4). # Ngày 1 tháng 5 năm 1954: VMCS mở đợt tấn công mới vào các đồn chung quanh trung tâm bằng chiến thuật đào hầm ngầm, mỗi ngày mỗi tiến sát vị trí quân Liên-Hiệp-Pháp. # Ngày 7 tháng 5 năm 1954: Từ bốn hướng, Sư đoàn 312 của tướng Lê-Trọng-Tấn, tấn công ào ạt vào Sở chỉ huy Pháp, Trung đoàn 88 Tu-Vũ (tăng phái) tràn ngập trung tâm hành quân Điện-Biên và thượng cờ đỏ sao vàng. Thiếu tướng De Castries đầu hàng vô điều kiện, khi bị Trung đòan 209 bắt sống. # Ngày 8 tháng 5 năm 1954: Chính phủ Pháp công bố Điện-Biên-Phủ đã thất thủ.

Phóng đồ hành quân Castor. Trận Điện-Biên-Phủ
Kết thúc trận đánh quyết định, quân đội Liên-Hiệp-Pháp tử trận 4.100, bị thương và bị bắt làm tù binh 8.200, không kể khỏang 2.000 thương bệnh binh được tản thương trước đó bằng phi cơ khi phi trường Mường-Thanh và Hồng-Cúm còn an ninh. Theo tướng Navarre trong hồi ký Argonie de L’Indochine, thì tướng Giáp cùng các cố vấn Trung-Cộng tàn bạo thí mạng binh sĩ để đánh lấy chiến thắng trận Điện-Biên, nên mức thương vong của quân VMCS cao khủng khiếp với hơn 12.000 tử-trận và trên 10.000 bị thương. Còn các nhà quân sự Tây phương thì ước lượng quân số VMCS hao hụt trên 2 sư đoàn sau 55 ngày đêm quyết tử. Mãi cho đến nay, tháng 5 năm 2004, nước CHXHCN Việt-Nam làm lễ kỷ niệm 50 năm chiến thắng trận đánh trên đây, nhưng vẫn chưa dám công bố thống kê chính thức về tổn thất của mình. Chắc chắn thống kê chính thức sẽ mâu thuẫn với những điều mà nhà nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa đã tuyên truyền trước kia, nên được giấu biệt về thương vong của trận Điện-Biên-Phủ. Sau trận Điện-Biên, chủ tịch Hồ-Chí-Minh hết sức vui mừng tuyên bố: “Tôi đã hoàn tất nhiệm vụ mà đảng Cộng-Sản Bolshevik (tức Đệ tam quốc tế CS) đã giao phó”. Riêng tướng Giáp khẳng định: “Thắng lợi đó chứng tỏ tư tưởng quân sự Mao-Trạch-Đông hết sức thích hợp với hoàn cảnh Việt-Nam và cuộc đấu tranh vũ trang của chúng ta.” (5) Như vậy, trong chiến tranh chống Pháp ông Hồ-Chí-Minh không phục vụ dân tộc, đất nước mà bắt dân tộc phục vụ cho Đệ III QTCS hay nói khác đi là Hồ-Chí-Minh bắt người Việt-Nam đánh thực dân Pháp thay cho Trung-Cộng và Liên-Xô.
B. VÀI NHẬN ĐỊNH MỚI VỀ ĐIỆN BIÊN PHỦ. 1. Tướng Navarre, Tổng-Tư-Lệnh quân-đội Liên-Hiệp-Pháp. Với nỗi buồn bàng bạc khắp hồi ký, trước hết cựu tướng Navarre cay đắng thừa nhận trách nhiệm về sự bại trận 1954: “Không hiểu biết Đông-Dương nhiều, thiếu kinh nghiệm chiến trường, lại đánh giá thấp khả năng tác chiến và tiếp vận của đối phương, cho nên đầu óc thủ cựu của tôi đã sai phạm lớn về chiến thuật nhử địch cổ điển”. Ông ta chỉ tiếc rẻ đạo quân Viễn-Chinh Đông-Dương có chiến thuật thành văn, trang bị khí tài chuyên nghiệp hiện đại, chiến đấu dũng cảm mà phải rút khỏi Đông-Dương sau 8 năm đương đầu với cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc (war of national liberation). Navarre cũng không quên ngợi khen tinh thần chiến đấu ngoan cường của quân đội Quốc gia Việt-Nam vừa mới thành lập tại địa ngục trần gian Điện-Biên-Phủ; điển hình là tư cách chiến đấu gan dạ lạ lùng của Thiếu úy Trung đội trưởng Phạm-Văn-Phú được đặc cách lên Trung úy tại mặt trận để nắm Đại đội 2 thuộc Tiểu đoàn 5 Dù Việt-Nam khi đương đầu với Sư đòan 316 tại cứ điểm Eliane (sau này là thiếu tướng Phú, Tư lệnh Quân đoàn II của VNCH). Những nhà nghiên cứu quân sử như sử gia S.Tucker, học giả Cao-Thế-Dung và Trung tướng P.Davidson đều cho rằng đây là tiếng nói tự đáy lòng của cựu tướng Navarre. Nhưng ông ta có sự nhầm lẫn ngộ nhận sâu đậm giữa cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc với cuộc chiến tranh nhân dân theo kiểu Max-Lenin-Mao do Hồ-Chí-Minh lãnh đạo. Đây là yếu tố rất quan trọng làm Navarre lấn cấn không tìm ra chiến lược thích nghi cho chiến trường Bắc-Việt, đưa đến sự thất trận Điện-Biên. 2. Thủ-tướng Joseph Laniel nói về ảnh-hưởng thất trận. Trong bài diễn văn từ chức, Thủ tướng Pháp, thẩm quyền chấp thuận kê hoạch Navarre, đã nói:“… Điện-Biên-Phủ bị thất thủ. Chiến thắng của VMCS tại đây đã làm thay đổi cán cân so sánh lực lượng trên chiến trường, đưa quân đội Pháp vào một tình thế vô cùng khó khăn mà hậu quả có thể làm sụp đổ toàn bộ chủ nghĩa thuộc địa Pháp ở Bắc-Phi. Ngoài mặt trận, tướng chỉ huy đánh giá thấp khả năng địch nên thua trận Điện-Biên; trong nước, đảng Cộng-Sản Pháp phụ họa thêm bằng cách cổ súy sức mạnh VMCS thì tinh thần chiến đấu của quân đội Liên-Hiệp-Pháp còn đâu nữa! Trước đây, nội các do tôi đứng đầu đã làm hết sức mình để tạo điều kiện quân sự thuận lợi nhất cho một giải pháp chính trị của cuộc xung đột Đông-Dương, ngỏ hầu quân đội Pháp dễ dàng ra đi trong danh dự. Nhưng giải pháp có lợi cho Pháp không xảy ra vì Điện-Biên thất thủ. Pháp đành chịu thua cục bộ ở Đông-Dương, quân đội Liên-Hiệp-Pháp tại đây có xuống tinh thần nhưng toàn bộ guồng máy quân sự của Pháp ở Châu-Phi vẫn vững mạnh…” 3. Học-giả Cao-Thế Dung nhận định về cái ‘Tâm nhãn’ của người cầm quân. Đây là trận đánh thí mạng binh sĩ kinh hoàng nhứt trong chiến sử nước Việt, do bản chất độc ác và rẻ rúng sinh mạng con người của tướng Võ-Nguyên-Giáp. Tội nghiệp cho đám thương binh đông đảo bị bỏ lại tại trận địa cho đến chết, hoặc do cấp chỉ huy thiếu ‘tâm nhãn’ đã tàn nhẫn ban cho phát đạn ân huệ cuối cùng. Số thương binh có khi lên đến hàng ngàn người như vậy, thử hỏi có toán cứu thương hay bệnh xá nào kham cho nổi? Vì vậy, Ông Dung cực lực lên án:” “Đây là cuộc chiến tàn bạo không có thương binh” hay người bị thương đã được cấp chỉ huy ra tay tế độ rồi! Thực ra mà nói thì từ trước đến nay, thế giới chưa thấy tài liệu chính thức nào về thương phế binh được nhà nước Cộng-Sản Việt-Nam (CSVN) công bố. Trong chiến tranh Việt-Nam, ngoại trừ đảng CSVN, người dân không có quyền được biết đến việc này vì nó làm mờ ánh vinh quang của đảng. 4.Tinh-thần chiến-đấu của bộ-đội VMCS (qua nhận định của Cao-Thế-Dung, Spencer Tucker, Phillip Davidson và Greg Lockhart). Trong gần một thập niên thành lập quân đội nhân-dân từ tháng 12 năm 1944 đến tháng 5 năm 1954) bao gồm thời điểm chính phủ Hồ-Chí-Minh ban hành lệnh tổng động viên tuổi từ 18 đến 55 vào tháng 5 năm 1950, bản chất nồng cốt của bộ đội VMCS – tiền thân của quân đội nhân dân – là bản chất nông dân chứ không phải là bản chất Cộng-Sản. Phần đông thanh niên nông thôn gia nhập bộ đội với tấm lòng yêu nước tự nhiên, thoạt tiên qua chiêu bài giải phóng dân tộc chống thực dân Pháp. Cho nên tinh thần hiên ngang chiến đấu của họ tại mặt trận khiến binh sĩ Pháp phải thán phục là lẽ đương nhiên. Nhưng rồi, qua không biết bao nhiêu lần bị nhồi sọ học tập chính trị, tâm hồn yêu nước thuần túy của bộ đội Việt-Minh dần dần bị nhuộm đỏ bởi chủ nghĩa ngoại lai Max-Lenin-Mao và trở thành quân đội Việt-Minh-Cộng-Sản (VMCS). Để kềm kẹp và khủng bố thêm, đảng bộ địa phương hàng ngày đôn đốc thân nhân phải động viên tính chiến đấu của người nhà mình trong quân ngũ. Tại đơn vị, bộ đội cũng được song hành lên lớp nhuần nhuyễn để biết sợ hãi rằng họ không thể nào lường được hậu quả thê thảm mà đảng và nhà nước dành cho gia đình mình nếu họ đào ngủ hay bỏ chạy mỗi khi chạm địch. Ngoài ra Bác Hồ còn mớm nhiều quyền lợi rất hấp dẫn như nhà nước hứa tịch thu ruộng đất của địa chủ đem chia cho chiến sĩ gương mẫu, anh hùng chiến đấu và bần nông, cũng như hứa hủy bỏ những bất công do thực dân phong kiến để lại. Giả sử như người bộ đội Việt-Minh thời đó hiểu được rằng họ đang bị lừa dối để chết cho chủ nghĩa Marx-Lenin-Mao, cho Đệ tam Quốc tế Cộng-Sản thì chắc gì họ giám liều thân lao vào biển lửa để tạo nên chiến thắng Điện-Biên? Một chiến thắng bằng núi xương sông máu để rồi đi đến kết quả đất nước bị chia đôi và miền Bắc rơi vào cảnh bần cùng … thì chiến thắng đó có mang lại hạnh phúc cho toàn dân như chiêu bài mà đảng Cộng-Sản Việt-Nam đã đề ra hay không? 5. Trung-tướng tình-báo Phillip Davidson Bàn về tinh-thần chiến đấu của binh-sĩ Pháp dưới sự chỉ huy của De Lattre, với kinh lịch đời binh nghiệp qua 3 cuộc chiến tranh lớn trong quyển ‘Vietnam at War”, tướng P.Davidson đã nhận xét rất đúng đắn về tinh thần chiến đấu của đạo quân Viễn-Chinh Pháp dưới nghệ thuật lãnh đạo của Thống tướng De Lattre được chuyển ngữ như sau:“Quân đội Viễn-Chinh Pháp, trong đó có đạo quân ưu tú Lê-Dương (Foreign legionnaire), với cơ bản đánh trận chuyên nghiệp và áp dụng chiến thuật thành văn lâu đời, thì đâu có yếu hèn? Sở dĩ binh sĩ Pháp sau này thúc thủ là vì họ không được chỉ huy đúng mức bởi những cấp chỉ huy có thực tài thao lược như De Lattre. Duyệt lại danh sách tướng lãnh Pháp từ Valluy, Salan đến Navarre…tất cả đều không đủ tài để giữ chức vụ Tổng tư lệnh Quân đội Viễn-Chinh Đông-Dương…Thực ra, tài ba của một tướng lãnh ngoài mặt trận cũng chỉ ở mức độ nào đó thôi, nghĩa là biết cách sử dụng khả năng quân sự đang có trong tay vào chiến trường; nhưng De Lattre lại rất khéo léo vận dụng ưu thế nầy đúng lúc cho từng mặt trận mà binh thư Á-Châu gọi là tài quyền biến để tạo chiến thắng. Quân sử thời đó đã chứng minh rằng hiếm người làm được như ông ta, chẳng hạn như phát huy sức mạnh của bom Napalm, biết rõ giá trị lưu động tính của việc phân tán hay tập trung đội hình chiến thuật, chi viện hải pháo, pháo binh đúng lúc để đạt hiệu quả cao nhất. Nếu De Lattre không chết sớm thì chắc gì có trận Điện-Biên xảy ra. Dù cho có trận này xảy ra đi nữa thì chắc gì De Lattre lại để cho tướng Giáp và cố vấn Trung-Cộng tự do thao túng chiến trường, rồi kết thúc trận đánh theo như ý muốn được.” 6. Bạch hóa việc Trung-cộng viện-trợ. Sau chuyến sang Mỹ cầu viện của De Lattre, Tổng thống Truman đã cảnh báo:“Nếu Trung-Cộng mở mặt trận Đông-Dương thì Mỹ tức khắc sẽ đưa chiến tranh đến Hoa-Lục”. Biết rõ tiềm lực lớn lao của ‘con cọp giấy có bom nguyên tử’ trong chiến tranh Cao-Ly, Mao ra lệnh giấu kín toàn bộ viện trợ cho nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa bằng bình phong “Tọa sơn quan hổ đấu – Ngồi trên núi xem cọp đánh nhau mà hưởng lợi”. Mãi đến trận Điện-Biên-Phủ kết thúc, thế giới mới biết VMCS đã nhờ vào viện trợ quân sự của Trung-Cộng mà tạo được trận thắng quyết định này. Nhưng người ta chưa rõ Trung-Cộng đã chi viện cho nước Việt-Nam DCCH những gì và đến mức độ nào. Đùng một cái, ngày 17 tháng 2 năm 1979, tình hữu nghị Việt-Hoa rạn nứt, khi Trung-Cộng xua 200.000 quân bằng 6 mũi tấn công từ biên giới phía Bắc, đánh thọc sâu vào lãnh thổ Việt-Nam trên 15 cây số để dạy cho những người đồng chí phản phúc một bài học về tội ăn cháo đá bát. Dịp này, Trung-Cộng rêu rao tất cả sự thật về quan hệ đôi bên suốt 30 năm qua bằng cách bạch hóa danh sách cố vấn cùng số lượng vũ khí và chiến cụ đã viện trợ, nhất là cho trận đánh quyết định Điện-Biên-Phủ để đòi quyền lợi viễn chinh của Hồng quân Trung-Cộng. Hổ trợ cho công tác tuyên truyền trên đây, Hoàng-Văn-Hoan (6) thành viên thường trực của Bộ chính trị trung ương Đảng vượt thoát sang Bắc-Kinh xin tỵ nạn đã viết trên báo Bắc-Kinh ngày 19 tháng 5 năm 1982 như sau: “Thắng lợi to lớn của Điện-Biên-Phủ không thể tách rời sự viện trợ to lớn về vật chất của Trung-Quốc và sự giúp đở trực tiếp của đoàn cố vấn quân sự Trung-Quốc. Cần vạch ra rằng, trong chiến dịch Điện-Biên-Phủ, nếu không có những khẩu đại bác đưa từ Trung-Quốc đến thì không thể nào phá nổi tập đoàn cứ điểm của Pháp; và nếu không có sự tham gia chỉ huy trực tiếp của đồng chí Vi-quốc-Thanh, Lã-quý-Ba ở tiền tuyến thì chiến dịch đó cũng khó mà giành được thắng lợi hoàn toàn”. Rồi đến năm 1988, Hoàng-Văn-Hoan xuất bản quyển ‘Giọt nước trong biển cả’, trang 450, Hoan ghi lại mức độ nhân lực quan trọng mà Trung-Cộng đã dồn cho chiến trường VN lên đến hàng chục tướng lãnh hàng đầu ở Trung-Nam-Hải, hàng trăm cán bộ cao cấp, hàng chục ngàn chuyên viên phòng không, pháo binh và tiếp liệu, hàng vạn công binh chiến đấu sửa đường và thiết trí đường xe hỏa. Toàn bộ cuốn sách nói lên công ơn trời biển của Mao. Một lòng trung thành với bác Hồ, Hoan chửi rủa thậm tệ sự độc tài phản bội của phe Lê-Duẫn và đi đến kết luận là tập đoàn Duẫn-Thọ rất xứng đáng được Bắc-Kinh dạy thêm cho vài bài học nữa. Trong khi đó Hà-Nội vội vã lệnh cho nhà xuất bản Sự-Thật phát hành quyển Sự Thật về Quan hệ Việt-Nam và Trung-Quốc trong 30 năm qua để biện minh, nhưng biết không thể che dấu quần chúng lâu được nữa, cực chẳng đã nhà nước CHXHCN Việt-Nam đành phải tự thú: “Trung-Quốc là nước cung cấp nhiều vũ khí nhất cho nước ta trong cuộc kháng chiến của nhân dân Việt-Nam chống thực dân Pháp … Mặc dù trong hoàn cảnh khó khăn vì chiến tranh Cao-Ly, nhân dân Trung-Quốc cũng đã dành một phần thành quả lao động của mình để giúp đỡ nhân dân Việt-Nam … Nhất là trong thời kỳ chống Pháp, Trung-Quốc có phái một số cố vấn chính trị, nhiều tướng lãnh quân sự sang giúp ta. Đó là điều mà nhân dân Việt-Nam bất cứ trong tình huống nào, mãi mãi không bao giờ quên”.(7) 7. Đáp số của các tướng-lãnh Tây-phương. Một số tướng lãnh Tây phương dựa vào truyền thống cổ điển Á-Châu để lập luận rằng học văn phải chọn danh sư khoa bảng, mới có cơ hội bái tổ vinh quy; còn học võ phải theo môn phái chánh đạo nổi tiếng mới hy vọng mã đáo thành công sau này. Cho nên việc tướng Võ-Nguyên-Giáp không xuất thân từ một trường võ bị nào khiến nhiều tướng lãnh Âu-Châu nghi ngờ tài thao lược của ông ta. Học giả Cao-Thế-Dung, trong ‘Việt-Nam 30 năm Máu Lửa’ trang 275 cũng biểu đồng tình là ông Giáp chưa phải là một danh tướng khi ông đánh vào chỗ cứng thay vì đánh vào chỗ mềm khiến trung đoàn 88 của Đại đoàn 308 bị tổn thất nặng trong trận đánh đồn Yên-Cư-Hạ. Vào tháng 5 năm 1995, Đại tướng Liên-sô Dimitri Volkogonov, cựu quản đốc văn khố mật ở Moscow cùng nữ sử gia Sophia Quinn Judge khám phá, công bố một số tài liệu về đời tư của Hồ-chí-Minh và chiến tranh Việt-Nam trong đó có trận đánh quyết định Điện-Biên-Phủ. Từ các tài liệu quý hiếm này, nhiều tướng lãnh Tây phương đã tìm được đáp số cho bài toán nan giải của họ: “Áp lực Trung-Cộng bao trùm chiến thắng Điện-Biên-Phủ”. Giờ đây thì sự kiện lịch sử đã quá rõ ràng, bởi nước Việt-Nam DCCH, trong quá khứ chưa hề sản xuất được một sách lược hay chiến cụ nào hữu dụng cho cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp. Từ chiến tranh tiêu thổ kháng chiến, chiến lược trường kỳ mai phục tiến lên, chiến thuật vận động biển người cho đến phương pháp đấu tố, cải cách ruộng đất và cách mạng văn hóa … tất cả đều là phó bản của Trung-Cộng. Mọi ngành, vật lực, tài lực đều do Bắc-Kinh viện trợ; thậm chí đến túi quân trang, thắt lưng đạn, võng đi rừng, bình đựng nước, bát ăn cơm…cũng đều do đồng chí Bắc phương cung cấp. Ngoại trừ hàng triệu mã tấu (Scimitar) do Công binh xưởng Trần-Đại-Nghĩa (tức kỹ sư Phạm-Quang-Lễ) sản xuất hàng năm là đắc dụng trong việc khủng bố, giết người và việc phung phí xương máu toàn dân trên chiến trường. Như vậy, gần cuối thế kỷ 20, dân tộc VN cũng như thế giới bên ngoài mới hiểu rõ đỉnh cao trí tuệ với tư tưởng Hồ-Chí-Minh và sức mạnh quân sự do Đảng CSVN vinh quang chỉ đạo không thể nào tạo được chiến thắng Điện-Biên, nếu không có sự hà hơi tiếp sức tối đa của ngoại bang. Rõ ràng là nhờ vay mượn trí tuệ, người và vật chất của Trung-Nam-Hải mà ông Giáp mới đánh bại được tướng Navarre, chớ nào phải do công lao thật sự của ông như đảng CSVN đã huyền thoại để dễ bề phủ hào quang lên một ‘chiến thắng không sao tiêu hóa nổi (8). Nếu thật sự là công trạng của ông Giáp, thống soái một nước nhược tiểu, đã đánh bại một đế quốc thực dân lớn như nước Pháp thì thiếu gì học viện quân sự giành nhau mời ông đến thuyết giảng kinh nghiệm đánh trận lẫy lừng; đồng thời Hàn lâm viện của các quốc gia văn hiến cũng đã trang trọng ghi tên Đại tướng Võ-Nguyên-Giáp lên hàng đầu danh tướng của thế kỷ 20. Hơn nữa, dựa vào sự kiện Đại tướng Giáp nắm giữ Bộ quốc phòng đến 34 năm (1946-1980) mà không viết nổi một quyển chiến thuật nào, lại còn không dám đặt chân đến chiến trường miền Nam do không có cố vấn quân sự Tàu chỉ đạo; cho nên sau khi cân nhắc, giới truyền thông Tây phương kết luận là “Chiến thắng Điện-Biên-Phủ năm 1954 thuộc về vũ khí và tướng lãnh Trung-Cộng, còn chiến thắng tháng 4 năm 1975 thuộc về vũ khí và tướng lãnh Liên-Xô”.
GHI CHÚ: (1) Đại-tướng Henri Navarre, chuyên nghiệp tình báo quốc tế, đang làm Tham mưu trưởng cho Thống chế Juin, Tổng tư lệnh lục-quân khối NATO. Năm 1942, Navarre theo kháng chiến của tương Charles De Gaule, từ cấp Trung đoàn trưởng cơ giới đổ bộ, được đề cử nắm chức Tư lệnh Sư-đoàn. Vì vậy Navarre ít nhiều cũng chịu ảnh hưởng về cách hành-xử theo lối của trùm thực dân De Gaule. Ngay trong những ngày đầu tiên đến Sàigòn, ông ta đã có những nhận định về quân đội QGVN hết sức kỳ quặc:“ Phát triển quân đội QGVN chỉ là thêm tay chân cho Mỹ hất cẳng Pháp ra khỏi Đông-Dương mà thôi”. Ngoài ra Navarre còn mỉa mai về viện trợ quân sự của Mỹ như sau:” “Nguy hiểm nhứt là viện trợ quân sự kèm theo đường lối chính trị, họ can thiệp sâu vào công việc chúng ta ở trong nước cũng như ở hải ngoại; dù có chiến thắng VMCS thì trước sau gì chúng ta cũng mất Đông-Dương”. Sau này, Navarre viết hồi ký thừa nhận là đã sai lầm với thiển kiến trên đây khiến ông ta lừng khừng, thiếu quyết đoán mà hậu quả là sự thất trận Điện-Biên-Phủ. (2) _ Gutzman Phillip. Vietnam:A Visual encyclopedia.London 2002, trang 47 và 48. _ Leepso Marc. Dictionary of Vietnam war. USA 1996, trang 519. _ Ban nghiên cứu lịch-sử QĐ. Lịch sử QĐND. Hà-Nội 1977, trang 162. Để tham dự chiến dịch Điện-Biên-Phủ, Sư đoàn Công pháo 351, được sự huấn luyện dài hạn và yểm trợ đầy đủ vũ khí nặng của Trung-Cộng, ra đời đầu năm 1954 do tướng Vũ-Hiến làm Tư lệnh đầu tiên và kế nhiệm vào năm 1955 là tướng Lê-Thiết-Hùng. Đây là sư đoàn pháo hiện đại có 5 trung đoàn tác chiến và 1 trung đoàn kỷ thuật pháo, tất cả đều đặt dưới sự chỉ đạo của hàng trăm cố vấn Trung-Cộng: - Trung đoàn 34 Pháo binh, trang bị 15 đại-bác 75 ly và 20 súng cối 120 ly. - Trung đoàn 45 Pháo binh, trng bị 36 khẩu đại-bác 105 ly. - Trung đoàn 237 Pháo binh, trang bị 40 khẩu súng cối 82 ly. - Trung đoàn 367 Pháo phòng không, trang bị 50 khẩu đại liên 12,7 ly và 36 khẩu đại bác phòng không 37 ly. - Trung đoàn 675 Pháo binh, trang bị 24 khẩu đại bác 75 ly và 20 khẩu sung cối 120 ly. - Trung đoàn 151 kỷ thuật pháo. (3) Hoàng-Minh-Chính được tướng Giáp đích thân gắn huy chương anh hùng về công tác đánh phá phi trường của Pháp có tên khai sinh tại Nam-Định là Trần-Ngọc-Nghiêm. Năm 1939, Chính phụ trách đoàn thanh niên phản đế tại Hà-Nội và được kết nạp vào Đảng CSVN năm 1940. Sau khi vượt khỏi ngục Hỏa-Lò, cuối năm 1946, Chính được giao nhiệm vụ thành lập đội Quyết tử quân rồi đổi tên thành Trung đoàn Đặc công sau này. Chính được đảng đề cử theo học Cao đẳng Chính trị Liên-Xô từ năm 1957 đến năm 1960, tốt nghiệp trở về nước lại cho giữ chức vụ cao là Viện trưởng Triết học Marx-Lenin. Đến cuối năm 1963, Chính bị Đảng ghét bỏ vì thiên Chủ nghĩa xét lại của Liên-Xô và bị Lê-Đức-Thọ bắt bỏ tù 3 lần cho đến khi chịu hối cải từ bỏ đòi hỏi “xóa điều 4 trong hiến-pháp của nước CHXHCN Việt-Nam”. Sau năm 1975, Tổ-chức Phục Hưng của người Việt hải ngoại tại Hoa-Kỳ cũng chủ-trương đồng dạng như vậy. (4) Từ điển bách khoa QSVN. Hà-Nội 2005, trang 168. (5) Hoàng-Văn-Hoan. Giọt nước trong biển cả. Bắc-Kinh 1986 và USA 1991, trang 352.( (6) Hoàng-Văn-Hoan sinh ở Nghệ-An năm 1905, gia nhập Việt-Nam Thanh-Niên Cách-Mạng Đồng-Minh Hội năm 1926 và trở thành đảng viên đảng CSVN năm 1930. Trong thời kỳ kháng Pháp, Hoan là Đại sứ của nước Việt-Nam DCCH tại Bắc-Kinh, đặc trách ngoại viện quân sự cho chiến khu Việt-Bắc. Sau vụ sai lầm lớn lao của Trường-Chinh về Cải-Cách Ruộng-Đất năm 1956, Hoan được đảng ủy nhiệm làm chủ tịch Hội đồng Đấu tố Nhân văn Giai phẩm. Nhờ thành công trong nhiệm vụ này, năm 1958, Hoan được bầu chọn làm Phó chủ tịch Quốc hội kiêm thành viên thường trực của Bộ chính trị trung-ương đảng. Đến khi đảng CSVN chiếm được niền Nam và thống nhứt 2 miền, Hoan cực lực chống đối lại sự độc quyền thống trị của Tổng bí thư Lê-Duẫn và Trưởng ban tổ chức đảng Lê-Đức-Thọ. Nhân chuyến thăm viếng Pakistan, Hoan móc nối ở lại rồi đào thoát sang Bắc-Kinh xin tị nạn sau đó. Trong thâm tâm Hoan lúc nào cũng tôn thờ hai ông thánh Mao-Trạch-Đông và Hồ-Chí-Minh, cho nên Hoan đồng ý hợp tác với Bắc-Kinh vén bức màn sắt phủ quanh chiến thắng Điện-Biên để thế giới bên ngoài rộng đường phê phán sau 28 nămbưng bít. Đồng hội đồng thuyền với Hoan còn có thượng tướng Chu-Văn-Tấn chủ tịch khu tự trị Việt-Bắc, Trung tướng Lê-Quảng-Ba, cựu Tư lệnh Sư đoàn 316 và số đông sĩ quan cấp tá đàn em của họ đều bị Lê-Duẫn loại ra khỏi Đảng rồi trừng trị về tội theo bá quyền bành trướng Trung-Nam-Hải. (7) Nhà xuất bản Sự-Thật. Sự thật về quan hệ Việt-Nam và Trung-Quốc trong 30 năm qua. Hà-Nội 1979, trang 8, 28 và 101. (8) Từ trước đến nay, huyền thoại về nhân vật lãnh đạo hay công cụ tuyên truyền tại những quốc gia Cộng-Sản đều được xem là biểu tượng trị nước hay nhất. Ngoài ý đồ bảo vệ ngôi vị độc tôn của Đảng, việc phủ hào quang lấp lánh lên công cụ tuyên truyền không những được quần chúng ngưỡng phục, đồng thời còn mang lại chính nghĩa cho Đảng về mặt đạo đức. Một khi huyền thoại không biết ngượng về các công cụ này không còn nữa thì chế độ CS đương quyền không thể nào tồn tại được. Tại Việt-Nam, hai ông Hồ-Chí-Minh và Võ-Nguyên-Giáp đã phá vỡ mọi kỷ lục về huyền thoại tiểu sử. Nội số sách viết một chiều về 2 ông cũng đã hàng chục lần nhiều hơn bất kỳ một danh nhân nào trong sử Việt. Sau thời gian chiến thắng Điện-Biên bị lật tẩy, bất chấp mọi lố bịch, ban tuyên huấn đảng CSVN đã nài nĩ mời cho được Chuẩn tướng Peter Macdonald (chuyên gia chất nổ 30 năm trong quân đội Anh) sang Việt-Nam để đánh bóng lại huyền thoại thêm cho thiên anh hùng ca Võ-Nguyên-Giáp qua hai trận Điện-Biên-Phủ và Khe-Sanh bằng quyển:“Giáp-The Victor in Vietnam. London 1990”. Trong khi tiểu thuyết gia P.Macdonald hí hửng về chất lượng quyển sách mới xuất bản mà hư cấu dựa vào tài liệu gốc của người Việt, thì bị báo chí Anh chỉ trích tơi bời. Giới truyền thông xứ Sương-Mù vạch trần tài liệu mà P.Macdonald có được là tư liệu của bà giáo viên sử địa Đặng-Bích-Hà (từng du học tại Moscow), phu nhân của tướng Giáp. Họ bảo P.Macdonald đã viết theo đơn đặt hàng của bà này. Theo họ, nếu để cho bà Hà viết thì câu chuyện sẽ ít dã sử mà còn mang tình cảm dân tộc đậm đà, hơn là để cho người ngoài viết thuê, khen mướn (valet de plume). Ngày nay, chiến thắng Điện-Biên-Phủ đã rõ ràng như ban ngày, không còn ai có đủ phép thần thông để tạo hào quang cho ông Giáp nữa. Nghiệp võ của ông ta bắt đầu xuống dốc kể từ khi bị Lê-Duẫn thẳng tay phê bình trước ngày mở chiến dịch Mùa-Xuân 1975: “Bộ trưởng Quốc phòng gì mà nhát như thỏ đế, vừa đánh Mỹ lại vừa run như thế này!”. Mãi đến Đại hội CSVN lần VI năm 1986, lần cuối cùng đàn em ông Giáp đã thu hết tàn lực thổi phòng uy tín anh Văn (bí-danh của ông Giáp) để chiếm chiếc ghế Thủ tướng nhà nước CHXHCN Việt-Nam, nhưng thất bại. Thói thường hễ thắng thì theo võ, còn thối thì theo văn, nhưng ảnh hưởng sâu đậm chế độ giáo điều đã khiến anh Văn do dự, sợ sệt, không giám quyết đoán đổi nghề trong lúc thối. Thôi đành chịu vậy, cờ đến tay mà không chịu phất, ông ta đã đánh mất cơ hội cực hiếm để trở thành nhân vật thời cuộc số 1 hoặc số 2 rồi. Trong quyển “Mây Mù Thế Kỷ”, Đại tá Việt-Cộng Bùi-Tín (bút hiệu Thành-Tín, cựu chủ nhiệm báo Quân-Đội Nhân-Dân) đã thất vọng than thở về tướng Giáp rằng trong chiến tranh chống Pháp, Đại tướng bị Trung-Cộng xỏ mũi ngoài trận địa; trong sai lầm đấu tố địa chủ, Đại tướng bị chính phủ dùng làm con tốt thí đẩy ra trước quần chúng để đả thông; trong cuộc xâm lăng miền Nam, Đại tướng bị đảng, không những trói vào chiếc ghế Bộ trưởng chỉ có 2 chân, mà còn ban cho những lời chỉ trích quá cay độc. Như vậy đối với đại sự, tướng Giáp chưa bao giờ tự chủ làm được một mình, cho đến nay (1986) những người mong ‘đổi mới’ trong đó có Bùi-Tín, đặt hết niềm tin vào ông ta đều bị hụt hẫng. Ông Giáp đã để cơ hội trăm năm một lần vuột đi. Than ôi! Chủ nghĩa Giáo điều quái ác đã làm cho một ông tướng trở thành một người hèn.
Nguyễn-văn-Ơn
07-07-2004 |