HomeTưởng NiệmThời SựHải QuânSử LiệuTìm hiểuSưu TầmVideoGiải TríLinks
Viewed: 9770970 
Sử LiệuTài liệu lịch sử Việt NamVài sử liệu Ải Nam Quan
   
Hịch Tướng Sĩ
Bình Ngô Đại Cáo
Hiến Pháp VNCH năm 1967
Ý Nghĩa Quốc kỳ&Quốc ca VN
Nguyên tổ họ Lý tại Đại Hàn
Văn tế Quốc Tổ Hùng Vương
Văn tế Quốc Tổ Hùng Vương
Quốc kỳ VN: Nguồn gốc
White Paper on the Paracel
Sư thật Hiệp Định Paris
Tại sao tôi bỏ Quân Đoàn I ?
Hồ sơ bí sử: Hồ Chí Minh
Sự thật lịch sử Hồ Chí Minh
TC nô lệ hóa CSVN qua CCRĐ
Sử liệu mới Điện Biên Phủ
Vài sử liệu Ải Nam Quan
The Vietnamese Flag
Why we fought ?
Thành lập Quốc gia Việt Nam
Công ước Bắc Kinh 1887
Nghĩa vụ bảo vệ bờ cỏi
Tiết lộ mới về Kissinger
Diễn văn của Trần Văn Hương
Lời kêu gọi của Tướng Minh
Đất Thăng Long
Từ HĐ 1973 đến biến cố 30/4
Ải Nam Quan: ảnh tài liệu-1
Chân dung Vua Triều Nguyễn
Đế Thám và cuộc Kháng chiến
Tiểu sử TT Nguyễn Bá Cẩn
Tập Trung Cải Tạo
Ải Chi Lăng còn hay mất?
Câu chuyện 16 tấn Vàng-1975
Đường Mòn Hồ Chí Minh
Video: Y nghĩa Quốc kỳ VN
Tiền Giấy thời Pháp Thuộc
Tiền Giấy thời VNCH
Tiểu sử TT Ngô Quang Trưởng
Trịnh Công Sơn: Nằm vùng
Đàn bà trong đời Hồ ChíMinh
Ai là mẹ của Nông Đức Mạnh?
Phan Bội Châu: PT Đông Du
Phan Bội Châu: Chi tiết mới
Ngô Thì Nhậm
Cải cách Hải quân: Bùi Viện
Phạm Hồng Thái
Lịch sử Chợ Bến Thành-SG
Thác Bản Giốc thuộc VN
Lịch sử về Thành Bình Định
Sự thật về Thích Quảng Đức
Quốc ca và Quốc kỳ Việt Nam
Cuộc Đảo Chánh 1/11/1963
Ai giết Ông Ngô Đình Diệm?
Cải Cách Ruộng Đất tại VN
Vụ Án Nhân Văn Giai Phẩm
Tai nạn sập Cầu Cần Thơ
Văn tế Đức Trần Hưng Đạo
Biến Động Miền Trung
Hành Quân Di Tản Hoa Kỳ 75
Mỏ dầu khí mới Vịnh Bắc Bộ
Thư ngỏ TT Nguyễn Bá Cẩn
Hồ Chí Minh: tài liệu mới
Tòa Khâm Sứ Hà Nội
Hồ sơ Thềm Lục Địa của VNCH
Vai trò TC tại VN 1946-1954
Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ
Cờ vàng: Cờ truyền thống
525 VNQDĐ bỏ mình ở Guyane
Chúc Thư Thích Huyền Quang
Bản điều trần GSTrần Đại Sỹ
Ải Nam Quan trong lịch sử
Điếu Văn KCQ Đông Tiến
Bản đồ phân định vịnh BắcBộ
Sự thật hồ sơ Thềm lục địa
Lịch sử VN cần sự thật
Vì sao mất Thác Bản Giốc?

Phong Trào Dân Chủ VN
Báo Tự Do Ngôn luận ra đời, một bước đột phát trong nỗ lực phá vỡ chính sách độc tai bưng bít thông tin của CSVN.
Báo Tự Do Dân Chủ  ra đời, ngày 2 tháng 9 năm 2006, tại thủ đô Hà Nội.
Tòa án man rợ Cộng sản VN bịt miệng Linh mục Nguyễn Văn Lý.

Hoàng Sa&Trường Sa
Lực lượng Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa 1974
Tài liệu giá trị lich sử do Hải sư Thềm Sơn Hà sưu tìm.
Đại cương về Quần đảo Hoàng Sa 
Hình ảnh - Địa lý - Khí hậu - Vị trí chiến lược. 
Bài sưu tầm của Hải sư Thềm Sơn Hà
HQ10 đi vào lịch sử 
Trận Hải chiến 19/01/1974 chống Trung Cộng xâm lăng.
HQ5 và Hải chiến Hòang Sa 1974 
Hồi ký của Trương Văn Liêm
Biến cố Trường Sa tháng 2-1974
VNCH mở cuộc hành quân Trần Hưng Đạo 48 tại Trường Sa cuối tháng 1/1974 để cũng cố chủ quyền VN ngăn ngừa tham vọng bành trướng của Trung cộng lấn chiếm quần đảo Trường Sa

 

Tài liệu Hải Quân VNCH
Lực Lượng Đặc nhiệm 99
Một tài liệu sống thực để cho các thế hệ mai sau hiểu thêm về nỗi đau đớn của một cuộc tương tàn mà người Việt Nam dù Nam hay Bắc, đã không làm chủ được... 
Hình thành HQ/VNCH
Bài sưu tầm của Bảo Bình Nguyễn Văn Ơn
Sea Float Năm Căn
Chiến dịch Trần Hưng Đạo 4 bình định Năn Căn Cà Mau do Hải sư Trương Thanh Việt sưu tầm.


VÀI SỬ LIỆU VỀ ẢI NAM QUAN

 Trần Gia Phụng

    Theo định nghĩa, ải là chỗ đất hẹp và hiểm trở nằm ở giáp ranh giữa hai vùng núi, hay biên giới giữa hai nước, dùng làm đường thông thương qua lại.(1)  Trong Chinh phụ ngâm khúc có câu:
               “Bóng cờ, tiếng trống xa xa,
                Sầu lên ngọn ải, oán ra cưả phòng.” (câu 15 và 16)
    Như thế, trước hết chữ “ải Nam Quan” cần được hiểu là ngọn ải có đường đèo hẹp qua lại giữa Việt Nam và Trung Hoa ở vùng Nam Quan, tỉnh Lạng Sơn.  Vùng Nam Quan nguyên thuỷ tên là Pha Luỹ.  Các bộ chính sử bắt đầu đề cập đến ải Pha Luỹ khi chép việc Trương Phụ đem quân tấn công nước ta năm 1406 (bính tuất), tuy quân Trung Hoa đã qua lại ải nầy trước đó nhiều lần.  Theo bộ Cương mục, ải Pha Luỹ (Nam Quan) ở xã Đồng Đăng, huyện Văn Uyên, tỉnh Lạng Sơn.(2)  Như vậy, ải Pha Luỹ, về sau gọi là Nam Quan, là cảnh quan thiên nhiên vùng đồi núi hiểm trở có ngọn đèo qua lại giữa hai nước Việt Hoa phiá bắc Lạng Sơn.
    Để làm ranh giới giữa hai nước, trên đỉnh cuả ngọn ải hay đèo Pha Luỹ, trước kia người Trung Hoa xây dựng một cưả hay cổng lớn, và đặt tên là “Nam Quan” [cưả về phương nam] hay “Đại Nam Quan” [cưả lớn về phương nam].  Người Pháp gọi cưả nầy là “Porte de Chine” nghĩa là “Cưả Trung Hoa”.  Từ đó mới có chữ Nam Quan và người Việt quen gọi là ải Nam Quan thay vì ải Pha Luỹ.  Đối diện ngay với chiếc ải nầy là những công trình kiến trúc cuả Việt Nam.  Ải Nam Quan mang ý nghĩa thứ nhì là các công trình kiến trúc nhân tạo của Trung Hoa và của Việt Nam.
    Bài viết nầy xin đưa ra vài sử liệu về cả khu vực ngọn ải và những công trình kiến trúc tại ngọn ải nầy.  Một trong những tài liệu điạ lý đầu tiên cuả Việt Nam là sách Dư điạ chí.  Dư điạ chí còn có tên là An Nam vũ cống, do Nguyễn Trãi (1380-1442) khởi thảo, trình vua Lê Thái Tông (trị vì 1434-1442) năm 1435.  Nhà vua sai người chú thích, cẩn án, và bàn luận thêm.  Sau đời Nguyễn Trãi, còn có người viết tiếp theo, nhưng phần chính cho đến đầu đời nhà Lê là do Nguyễn Trãi soạn.  Sách nầy có viết về Lạng Sơn, nhưng hoàn toàn không đề cập đến ải Nam Quan (theo cả hai nghĩa).  Cần phải chú ý đến điểm nầy, vì theo truyền thuyết, Nguyễn Trãi đã tiễn chân cha là Nguyễn Phi Khanh đến ải Nam Quan khi Nguyễn Phi Khanh bị quân Minh bắt giải về Trung Hoa theo gia đình Hồ Quý Ly năm 1407.  Phải chăng đó là vấn đề gia đình riêng tư, nên Nguyễn Trãi đã không đề cập đến trong sách cuả mình?  

1.-  TÀI LIỆU 1:  Vân đài loại ngữ (1773)
       Vân đài loại ngữ [Lời nói chia theo từng loại ở nơi đọc sách](3) do Lê Quý Đôn soạn và đề tựa năm 1773.  Lê Quý Đôn (1726-1784) đỗ bảng nhãn (thứ nhì khoa thi tiến sĩ, sau trạng nguyên) năm 1752.  Ông làm quan dưới đời vua Lê Hiển Tông (niên hiệu là Cảnh Hưng, trị vì 1740-1786), đã đi sứ Trung Hoa năm 1760.  Sách Vân đài loại ngữ gồm có 9 quyển nói về 9 loại, trong đó quyển thứ 3 là “Khu vũ loại”.  “Khu vũ loại” có 90 mục.  Mục thứ 81 chép lại hai bài ký cuả người Trung Hoa liên quan đến ải Nam Quan.  Đó là bài “Trùng tu Nam Quan ký” [Bài ký về việc trùng tu cưả Nam) của tuần phủ Quảng Tây là Lý Công Phất đời Ung Chính nhà Thanh,(4) và bài “Tuần duyệt An Nam biên ải ký” (Bài ký về việc tuần biên cưả ải An Nam) cuả Hoàng Nhạc Mục nói về việc tuần tra biên ải dọc biên giới Hoa Việt.  Lê Quý Đôn nói rõ đã sưu tầm được hai bài ký nầy nhân lúc đi sứ năm 1760. 
    Bài “Trùng tu Nam Quan ký” cho biết viên án sát Quảng Tây là Cam Nhữ Lai sưả sang công trình kiến trúc Nam Quan cuả Trung Hoa từ muà xuân đến muà đông năm ất tỵ (1725)  dưới đời vua Ung Chính.  Bài ký mô tả: “Cưả quan nầy tường cao, lầu kín; nơi khám xét, nơi đóng quân, nơi canh phòng đều đầy đủ chỉnh tề.”(5) 

2.-   TÀI LIỆU 2:  Tấm bia cuả Nguyễn Trọng Đang (1785)  
    Nguyễn Trọng Đang là đốc trấn (tương đương với tỉnh trưởng) trấn (sau đổi thành tỉnh) Lạng Sơn.  Dưới đây là bản dịch tấm bia do ông Nguyễn Trọng Đang lập và đặt ngay tại ải Nam Quan năm 1785: “Khi nước ta có cả đất Ngũ lĩnh, cưả quan ở nơi nào không xét vào đâu được, sau nầy thay đổi thế nào không rõ, gần đây lấy châu Văn Uyên, trấn Lạng Sơn làm cưả quan, có đài gọi là Vọng Đức, không biết dựng từ năm nào, hình như mới có từ khoảng niên hiệu Gia Tĩnh [6] nhà Minh (ngang với khoảng niên hiệu Nguyên Hoà nhà Lê nước ta) [7]  đài không có quán, hai bên tả hữu lợp bằng cỏ, sưả chữa qua loa, vẫn theo cũ vậy.  Nhà Lê ta trung hưng đời thứ 14, vua ta kỷ nguyên năm thứ 41 [1780], là năm canh tý, ngang với năm thứ 44 niên hiệu Càn Long [8] nhà Thanh, Đang tôi làm giữ chức Đốc trấn qua 5 năm là năm giáp thìn [1784], sưả chữa lại, đổi dùng gạch ngói, đài mới có vẻ hoành tráng.  Trước kia Đang tôi đi sứ về, được lĩnh trấn nầy, tạ sứ trở về một lần, hạ sứ, cống sứ tiến quan hai lần, tôi thường phải đón tiếp.  Từ nghĩ nước ta, dùng lễ văn thông với Trung Quốc, hiện nay đức Đại hoàng đế, sủng mạnh thường ban, ngoài việc tuế cống sứ thần thời thường phụng mạng đi lại, nên sưả sang đài quán cao rộng cho được xứng đáng với tình nghi, đem việc tâu về triều, đã được phê chuẩn, mới uỷ cho thập nhị hiệu phiên thuộc, tính toán tài liệu phí dụng, bắt dân làm việc, có 4 dịch trưởng trông nom công việc, khởi công từ mùa hạ năm giáp thìn [1784], đài cũ rồi, được cao rộng mới từ đấy, việc làm phải theo với thời thế, không dám làm hơn người trước.  Mùa đông năm ấy, Đang tôi được triệu về kinh, sau nhân sứ sang Trung Quốc khánh hạ trở về, mùa xuân năm ất tỵ [1785], vâng mệnh đón tiếp, phó sứ Nguyễn Đường Chi là cháu tôi vậy, đã may được vâng hưu mệnh, làm vinh dự cho cả chú và cháu.  Kịp đến cưả quan, thì đài cũng vừa hoàn thành, các phiên thuộc xin đem công việc khắc vào bia đá, nên mới kể ngạnh khái như trên.  Sau nầy kẻ giữ đất và kẻ đi sứ, sẽ có thể xem xét ở bia nầy vậy. 
    Chức Đặc tiến kim tử vinh lộc Đại phu, Hàn lâm viện Thị giảng, tước Lạp Sơn Bá, Nguyễn Trọng Đang, hiệu là Thanh Chương, tự là Chú Du ký tên. 
    Vua ta kỷ nguyên năm thứ 46 [1785] là năm ất tỵ, muà xuân, trước ngày vọng [ngày 15]  bangày.”(9) 
    Xin lưu ý đến câu cuối cùng cuả bài văn bia: “Sau nầy kẻ giữ đất và kẻ đi sứ, sẽ có thể xem xét ở bia nầy vậy.”  Xem xét ở bia nầy để nhớ rằng:  “... gần đây lấy châu Văn Uyên, trấn Lạng Sơn làm cưả quan, có đài gọi là Vọng Đức, không biết dựng từ năm nào... nên sưả sang đài quán cao rộng cho được xứng đáng với tình nghi, đem việc tâu về triều, đã được phê chuẩn, mới uỷ cho thập nhị hiệu phiên thuộc, tính toán tài liệu phí dụng, bắt dân làm việc, có 4 dịch trưởng trông nom công việc, khởi công từ muà hạ năm giáp thìn [1784]... Kịp đến cưả quan, thì đài cũng vưà hoàn thành, các phiên thuộc xin đem công việc khắc vào bia đá...” 
    Điều nầy có nghĩa là ngay tại cửa quan, ngoài kiến trúc cuả Trung Hoa còn có kiến trúc cuả Việt Nam.  Các tấm ảnh chụp vào đầu thế kỷ 20 cho thấy các kiến trúc nầy vẫn còn tồn tại.  Bài văn bia nầy được tìm thấy trong Phương Đình dư điạ chí cuả Nguyễn Văn Siêu.  Không biết tấm bia cuả Nguyễn Trọng ngày nay còn được lưu giữ hay đã bị cất giấu hoặc phá huỷ?  

3.-   TÀI LIỆU 3:  Bài thơ cuả Nguyễn Du (1813)   
    Năm 1813 (quý dậu), Nguyễn Du (1765-1820) vừa được phong hàm Cần chánh điện học sĩ,(10) vâng lệnh vua Gia Long (trị vì 1802-1819), làm chánh sứ sang nhà Thanh (Trung Hoa).  Trên đường đi sứ, ông sáng tác nhiều bài thơ chữ Nho và sau tập hợp lại thành sách Bắc hành tạp lục. 
    Bắc hành tạp lục gồm 110 đề mục, và vì có nhiều đề mục thi sĩ  Nguyễn Du sáng tác hai bài thơ, nên có tất cả 120 bài thơ chữ Nho, trong đó có hai bài Nguyễn Du viết về tâm sự cuả mình khi tiến qua ải Nam Quan để vào đất Trung Hoa.  Đó là bài “Nam Quan đạo trung” và “Trấn Nam Quan”.  Riêng bài “Trấn Nam Quan” nói rõ biên giới giữa nước ta và Trung Hoa nằm ngay nơi mặt ải.  Nguyên văn bài thơ như sau:
                                   TRẤN NAM QUAN
                              “Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,
                              Tam bách niên lai trực đáo câm (kim).
                              Lưỡng quốc bình phân cô luỹ diện,
                              Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm.
                              Điạ thiên mỗi vị truyền văn ngộ,
                              Thiên cận tài tri giáng trạch thâm..
                              Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu,
                              Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm.”(11)
    Dịch nghĩa:
                                   TRẤN NAM QUAN
                              “Việc cũ đời Lý, Trần xa xôi mờ mịt khó tìm,
                              Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ.
                              Hai nước [Việt Hoa] chia đều từ mặt luỹ lẻ loi,
                              Một cửa ải oai hùng trấn đóng giữa lòng muôn núi.
                              Đất xa xôi thường nghe lời đồn sai,
                              Trời gần mới biết ơn mưa móc cao dày.
                              Cửa khuyết ngoái đầu ngoài mây biếc,
                              Nhạc vua bên tai còn nghe văng vẳng.”
                    
    Mục đích chính cuả bài thơ nầy để nói lên tâm sự cuả người đi sứ, trong đó bốn câu cuối diễn tả lòng trung quân ái quốc cuả ông.  Tuy nhiên, bốn câu đầu lại nêu ra một thực tế lịch sử và biên giới giữa hai nước.  Nguyễn Du xác nhận chuyện biên giới từ đời Lý Trần trở về trước không được rõ ràng: “Lý Trần cựu sự yểu nan tầm “ (Việc cũ đời Lý, Trần xa xôi mờ mịt khó tìm ), nhưng 300 năm sau đó, thẳng cho đến thời Nguyễn Du: “Tam bách niên lai trực đáo câm “ (Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ), thì hai nước Việt Hoa đã chia đều mặt ải nầy, “Lưỡng quốc bình phân cô luỹ diện” (Hai nước [Việt Hoa] chia đều từ mặt luỹ lẻ loi).   Nguyễn Du là người đi sứ.  Ông ghi nhận lại những gì mắt thấy tai nghe trên đường đi.  Thơ cuả ông không có mục đích tuyên truyền mà chỉ để giải khuây, hay diễn tả tâm trạng cuả mình trên bước đường hành sứ.  Chính ông bước qua cưả ải để tiến vào nước Trung Hoa.  Chính ông chứng kiến rõ ràng tận mắt tại chỗ mặt ải Nam Quan là biên giới phân chia hai nước.  Đó là một thực tế không thể chối cãi được. 
    Bài thơ cuả Nguyễn Du viết năm 1813 có thể xem là bản “Tuyên ngôn về biên giới” Việt Hoa có giá trị hơn là các cột mốc biên giới, vì cột mốc bằng đá hay bằng xi-măng có thể bị dời di dời lại, hoặc bị thủ tiêu (thật sự cộng sản đã thủ tiêu), và những công trình xây dựng cuả chính quyền Việt Nam có thể bị phá huỷ, nhưng lời thơ cuả người đi sứ, ngang qua cưả ải và ghi lại rằng hai nước đã chia đều mặt ải nầy (tức mặt ải nầy là biên giới giưã hai nước) là một thực tế bất di dịch không chối cãi vào đâu được.  “Trăm năm bia đá thì mòn,/ Ngàn năm “thơ thánh” vẫn còn trở trơ.”

4.-   TÀI LIỆU 4:  Lịch triều hiến chương loại chí (1821)   
    Sách nầy do Phan Huy Chú (1782-1840) soạn.  Ông là con của Phan Huy Ích (1750-1822).  Ông học rộng biết nhiều, nhưng thi hương hai khoá (1807 và 1819) vào đầu đời nhà Nguyễn đều hỏng, và chỉ được xếp hạng tú tài.  Năm 1821, ông được bổ nhiệm làm Hàn lâm viện biên tu.  Cũng trong năm nầy, ông trình lên triều đình bộ Lịch triều hiến chương loại chí, được xem là bộ bách khoa toàn thư về văn hóa nước ta.  Lịch triều hiến chương loại chí gồm 49 quyển, chia làm 10 phần, trong đó phần 1 là Điạ dư chí từ quyển 1 đến quyển 5. 
    Trong quyển 4, khi trình bày về tỉnh Lạng Sơn, Phan Huy Chú viết: “Lạng Sơn, nam giáp An Quảng, bắc giáp Ải quan, tây tiếp Kinh Bắc, đông liền Cao Bằng...”(12)  Phan Huy Chú chỉ viết đơn giản “bắc giáp Ải quan”, điều đó có nghĩa là ải Nam Quan là biên giới phiá bắc cuả Lạng Sơn.

5.-   TÀI LIỆU 5:  Phương Đình dư điạ chí (1865) 
    Nguyễn Văn Siêu (1799-1872), tự Tốn Ban, hiệu Phương Đình, người thôn Dũng Thọ, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội, đỗ cử nhân trường thi Thăng Long năm 1825, đỗ phó bảng tại kinh đô Huế năm 1838, làm quan đến chức án sát, rồi cáo quan về quê dạy học.(13) 
    Nguyễn Văn Siêu học bác uyên thâm, nghiên cứu rộng rãi.  Tương truyền rằng vua Tự Đức đã sắp ông làø người đứng đầu trong bốn văn tài lỗi lạc nhất dưới triều đại mình: “Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán,/ Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường” (Văn chương mà như cuả các ông Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát làm cho văn học đời Tiền Hán không còn [làm khuông mẫu nữa],/ Thơ mà đến mức cuả các vị Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương làm cho thơ đời thịnh Đường mất luôn giá trị.) (14)
Nguyễn Văn Siêu được vua Tự Đức (trị vì 1847-1883) cử sang giao thiệp với nhà Thanh (Trung Hoa) năm 1849.  Trên đường đi sứ, ngang qua ải Nam Quan, Nguyễn Văn Siêu không cảm tác thành thơ như Nguyễn Du, mà ghi lại toàn cảnh Nam Quan và bài văn bia cuả đốc trấn Nguyễn Trọng Đang lưu lại đời sau trong quyển sách về điạ lý nổi tiếng cuả ông là Phương Đình dư điạ chí (có sách viết là Phương Đình điạ loại chí).  Phương Đình dư điạ chí được đề tưạ vào năm 1865, gồm 5 quyển.  Trong quyển thứ 5, mục viết về tỉnh Lạng Sơn, Nguyễn Văn Siêu mô tả ải Nam Quan như sau:  “... ở điạ phận hai xã Đồng Đăng và Bảo Lâm châu Văn Uyên, phiá bắc giáp điạ giới châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, hai bên tả hữu núi đá cao ngất, ở giữa mở một cưả quan, có cánh cưả có khoá, chỉ khi có việc sứ mới mở, tên là cưả Nam Quan (một tên là Đại Nam Quan, một tên là Trấn Di Quan, lại có tên là Trấn Nam Quan.  Sử ký chép: năm thứ 8 niên hiệu Nguyên Hoà nhà Lê [1540], Mạc Đăng Dung cùng với bầy tôi là lũ Nguyễn Như Quế qua cưả trấn Nam Quan, đến mạc phủ nhà Minh dâng biểu xin hàng, cái tên Trấn Nam mới thấy từ đây.)  Có Ngưỡng Đức Đài, khi trước lợp cỏ, năm thứ 34, niên hiệu Cảnh Hưng quan Đốc trấn là Nguyễn Trọng Đang sưả lại...”(15) 
    Xin lưu ý đến câu viết cuả Nguyễn Văn Siêu: “ở giữa mở một cưả quan, có cánh cưả có khoá, chỉ khi có việc sứ mới mở, tên là cưả Nam Quan...”  Câu nầy có nghiã là biên giới giữa hai nước Việt Nam và Trung Hoa nằm ngay mặt cưả ải, vì “chỉ khi có việc sứ mới mở”, có nghĩa là mở cưả ải là đi qua nước khác.  Sự ghi nhận cuả Nguyễn Văn Siêu thêm một lần nưã xác nhận câu thơ cuả đại thi hào Nguyễn Du: “Lưỡng quốc bình phân cô luỹ diện” (Hai nước [Việt Hoa] chia đều từ mặt luỹ lẻ loi).

6.-   TÀI LIỆU 6:  Đại Nam nhất thống chí (1882)
    Đại Nam nhất thống chí có hai bộ: bộ thứ nhất soạn dưới thời vua Tự Đức; bộ thứ nhì soạn dưới đời vua Duy Tân (trị vì 1907-1916).  Bộ thứ nhì được khắc in năm 1909, chỉ viết về các tỉnh Trung Kỳ nên thiếu sót, xin không nói đến ở đây.
    Bộ Đại Nam Nhất thống chí thứ nhất do Quốc sử quán triều Nguyễn bắt đầu soạn năm 1865, và xong năm 1882, tức hoàn toàn dưới triều đại vua Tự Đức, và bộ nầy được soạn sau bộ Phương Đình dư điạ chí.  Bộ nầy có hai bản dịch:  Bản dịch cuả Văn Hoá Tùng Thư, thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục (Việt Nam Cộng Hoà), xuất bản ở Sài Gòn các năm 1964-1965.  Bản dịch khác cuả Viện Sử học Hà Nội vào đầu thập niên 70, mới được Nxb Thuận Hoá, Huế tái bản.
    Sau đây là lời Đại Nam nhất thống chí về ải Nam Quan: “cách tỉnh thành [Lạng Sơn] 31 dặm về phía bắc,[16] thuộc châu Văn Uyên, phía bắc giáp châu Bằng Tường [Pingxiang / P’inghsiang]  tỉnh Quảng Tây nước Thanh, tức là chỗ mà người Thanh gọi Trấn Nam Quan.  Cửa nầy dựng từ năm Gia Tĩnh nhà Minh, đến năm Ung Chính thứ 3 [1725] nhà Thanh, án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai tu bổ lại có tên nữa là “Đại Nam Quan”, phía đông là một  dải núi đất, phía tây là một dải núi đá, đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường, gồm 119 trượng,[17] cửa quan đặt ở quãng giữa có biển đề “Trấn Nam Quan”, dựng từ năm Ung Chính thứ 6 [1728] triều Thanh, có một cửa, có khóa,  chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mở.  Bên trên cửa có trùng đài, biển đề 4 chữ “Trung ngoại nhất gia”, dựng từ năm tân sửu [1781] đời Càn Long nhà Thanh.  Phía bắc cửa có “Chiêu đức đài”, đàng sau đài có “Đình tham đường” (nhà giữ ngựa) của nước Thanh; phía nam có “Ngưỡng đức đài” của nước ta, bên tả bên hữu, có hai dãy hành lang, mỗi khi sứ bộ đến cửa quan thì dùng chỗ nầy làm nơi tạm nghỉ.”(18)
    Sau khi mô tả ải Nam Quan, các sử quan nhà Nguyễn đã đưa ra nhận xét như sau: “Trấn Nam Quan không rõ bắt đầu từ triều đại nào, trong Nam sử cũng như Bắc sử đều không có minh văn.  Khoảng đời Lê Cảnh Hưng, đốc trấn Lạng Sơn Nguyễn Trọng Đang sửa lại “Ngưỡng đức đài”, lập bia ghi việc đại lược nói: “Nước Việt ta có Ngũ Lĩnh, quan ải trước ở đâu không rõ, là vì diên cách thế nào không ghi đủ.  Gần đây, lấy địa giới châu Văn Uyên trấn Lạng Sơn làm cửa quan, cửa quan có “Ngưỡng đức đài” không rõ dựng từ năm nào, có lẽ bắt đầu từ đời Gia Tĩnh nhà Minh.”  Văn bia ấy nay vẫn còn.”(19)

7.-   TÀI LIỆU 7:   Bản đồ nhà Thanh năm 1764 (người Pháp in lại năm 1886)
    Bản đồ nầy được tìm thấy trong Đại Thanh nhất thống chí.  Đại Thanh nhất thống chí gồm 500 quyển.  Bản đồ nầy nằm trong quyển 365, tờ 1 và 2, in năm giáp thân (1764).  Tác giả G. Devéria, người Pháp, đã phiên âm những danh từ điạ lý chữ Trung Hoa trong bản đồ nầy và in trong sách La Frontière Sino-Annamite [Biên giới Hoa-Việt], Nxb. Ernest Leroux, Paris 1886, trang 28.  Lối phiên âm cuả ông G. Deveria không theo phương pháp phiên âm Wade-Giles, vì lúc đó phương pháp nầy chưa ra đời.  (Giáo sư Herbert Allen Giles ấn hành Chinese-English Dictionary năm 1912, lối phiên âm Wade-Giles mới chính thức được phổ biến.) 
    Trên bản đồ nầy, ải Nam Quan được ghi như sau: Gde[Grande] Porte Sud / Tchen nam Kouan [Cưả Nam Lớn (tức Đại Nam Quan) / Trấn Nam Quan].  Cũng trên bản đồ nầy, ải Nam Quan nằm ngay trên biên giới Việt Hoa, phiá nam Bằng Tường thuộc phủ Thái Bình, tỉnh Quảng tây, Trung Hoa.
    Như thế, chính phiá nhà Thanh (Trung Hoa) cũng thừa nhận rằng biên giơi phiá nam cuả họ giáp giới với tỉnh Lạng Sơn cuả Đại Việt (tức Việt Nam sau nầy) ở tại ải Nam Quan
Chú thích thêm của người viết:
                       [1]  Tai-ping Fou                                :  Thái Bình Phủ
                       [2]  Gde Porte Sud [Grande Porte Sud] :  Cửa Nam Lớn [tức Đại Nam Quan]
                              Tchen nam Kouan                        :  Trấn Nam Quan  [ĐẠI VIỆT]
                       [3]  Pin Siang                                      :  Bằng Tường
                       [4]  Porte Ping-eurl ai                          :  (Cưả) Bình Nhi ải [ ở Thất Khê]
                       [5]  Porte Chouei Keou Kouan               :  (Cưả) Thuỷ Khẩu Quan [ở Cao Bằng]
                       [6]  Long-Tcheou                                 :  Long Châu
                       [7]  Kiang  Tcheou                               :  Giang Châu
                       [8]  Nan-Ning Fou                                :  Nam Ninh Phủ

8.-   TÀI LIỆU 8:  Bút ký cuả bác sĩ P. Néis (1887)  
    Bác sĩ P. Néis là một thành viên người Pháp trong phái đoàn chung Pháp Hoa để thi hành việc cắm mốc biên giới Việt Hoa sau khi Pháp đặt nền đô hộ tại Việt Nam bằng hoà ước Giáp Thân ký tại Huế ngày 6-6-1884 và sau Pháp ký với Trung Hoa hiệp ước Thiên Tân lần thứ nhì ngày 9-6-1885.(20)
Bác sĩ P. Néis cùng phái đoàn Pháp rời hải cảng Marseille (miền nam nước Pháp) qua Việt Nam tháng 9-1885, đến Hà Nội ngày 1-11-1885.  Hai phái đoàn Pháp Hoa gặp nhau lần đầu ngày 12-1-1886.      Sau đó, hai phái đoàn đến ải Nam Quan trước tiên để thực hiện công cuộc hoạch định biên giới.
Xong công việc nầy, bác sĩ P. Néis đã viết bài “Sur les frontières du Tonkin” [Về biên giới Bắc Kỳ], đăng nhiều kỳ trên báo Le Tour du monde [Vòng quanh thế giới], Paris, 1887.  Bài nầy được ông Walter E. J. Tips giới thiệu và dịch qua Anh ngữ, thành sách The Sino-Vietnamese Border Demarcation 1885-1887 [Cuộc phân định biên giới Hoa-Việt 1885-1887], Nxb. White Lotus Press, Bangkok, Thái Lan, 1998.
    Trong bài viết cuả mình, về vấn đề ải Nam Quan, có đoạn bác sĩ P. Néis viết và được dịch ra Anh ngữ (trang 38 sách dịch) như sau: “The Gate to China is situated at the end of a not very deep gorge; the steep hills which overlook it are rarely higher than 50 to 60 metres.  Since the peace, the Chinese have reconstructed it in cut stone and it is linked by a crennellated wall with the entrenched camps which crown the hills.  The Chinese commissioners strongly insist that the gate and the crennellated wall must not be the border line; they want at least a few metres of fallow terrain in front of it.  We go to the place and, as a great concession on our part, of which we ourselves were later to boast incessantly, we agreed that the border would follow the brook which passes at the foot of the hills of the Gate to China, about 150 metres before the gate.  This was what I would call the first demarcation meeting, six months after our departure from France and three months after our arrival in Dong-Dang!”
    Xin tạm dịch: “Cổng sang Trung Hoa [ải Nam Quan] nằm ở cuối một ngọn đèo không sâu [cao] lắm; những đồi chung quanh ít khi cao quá 50 đến 60 thước nhìn xuống đèo.  Từ khi hoà bình, người Hoa đã tái xây dựng cổng nầy bằng đá tảng, nối liền với một tường thành có lỗ châu mai đi kèm với hào đất vòng quanh đồi núi.  Các uỷ viên Trung Hoa đã mạnh mẽ yêu cầu rằng cưả ải và trường thành có lỗ châu mai không thể là đường biên giới; họ muốn rằng đường biên giới cách đó vài thước, nằm trên vùng đất bỏ hoang phiá trước mặt.  Chúng tôi đến tận chỗ và, với sự nhượng bộ lớn lao về phiá chúng tôi, mà sau đó chúng tôi không ngớt khoe khoang, chúng tôi đồng ý rằng biên giới chạy theo con suối dưới chân đồi Cổng Trung Hoa, cách trước mặt cổng khoảng 150 thước.  Đó là điều tôi có thể gọi là phiên họp phân định ranh giới đầu tiên, sáu tháng sau khi tôi rời nước Pháp và ba tháng sau khi tôi đến Đồng Đăng.”
    Đoạn nầy cho thấy hai điều:  Thứ nhất, sau khi ký các hiệp ước Thiên Tân lần thứ nhất ngày 12-5-1884 và lần thứ nhì ngày 9-6-1885,(20) theo đó Trung Hoa thừa nhận quyền bảo hộ cuả Pháp tại Việt Nam, rút hết quân về nước, chấm dứt chiến tranh với Pháp ở Việt Nam, thì Trung Hoa đã tái xây dựng ải Nam Quan một cách chắc chắn bằng đá tảng và lập một tường thành phân cách hai bên.  Trước đó, trong trận đụng độ với quân Pháp ở Đồng Đăng (Lạng Sơn), quân Trung Hoa thua chạy theo hai hướng: một lên Thất Khê, một lên Nam Quan.  Tướng Negrier chỉ huy quân Pháp, truy đuổi quân Trung Hoa lên tới Nam Quan, rồi phá cưả ải nầy ngày 22-2-1885 (8-1 ất dậu).(21)
    Thứ nhì, Pháp đã tự ý nhượng bộ cho Trung Hoa khoảng 150 thước, xuống đến chân đồi có ải Nam Quan, và dùng con suối tại đó làm đường phân ranh.(22)  
Về vấn đề nầy, vừa xuất hiện thêm tài liệu cuả ông Trương Nhân Tuấn, một tác giả hiện ở Pháp.  Vào đầu năm 2002, ông Tuấn tìm kiếm trong thư khố Aix-en-Provence ở miền Nam nước Pháp, những tài liệu liên quan đến việc hoạch định và cắm mốc biên giới Việt Hoa.
    Trong điện thư đề ngày 10-5-2002 gởi cho nhiều nhà viết nghiên cứu ở Bắc Mỹ, ông Trương Nhân Tuấn viết: “Tôi có đưa lên mạng internet một tài liệu là biên bản phân giới vùng Quảng Tây ngày 15-12-1890 giữa Đại diện chính phủ Bảo hộ Pháp và nhà Thanh, lấy từ hồ sơ Phân định Biên giới tại Văn khố Đông Dương ở Aix-en-Provence.  Trong phần thứ 3 cuả tài liệu nầy có ghi rõ:  1er. borne: sur le chemin de Nam Quan à Dong-Dang (à 100m au S. de la porte).  Có nghĩa là: cột thứ nhất: trên đường từ Nam Quan về Đồng Đăng (ở 100 thước phiá nam cuả cổng.”  Con số 100 thước và 150 thước ở vùng đất Nam Quan rất quan trọng.  Một bên ông P. Neis là người trong cuộc kể lại ngay sau khi thi hành xong công vụ hoạch định biên giới, một bên khác, theo lời ông Trương Nhân Tuấn, là biên bản trong hồ sơ phân định biên giới.  Sự sai biệt nầy cần có thêm nhiều tài liệu khác mới làm rõ được.  Dầu sao, rõ ràng là người Pháp đã nhượng bộ người Trung Hoa, và chấp nhận biên giới Việt Hoa không phải ở ngay mặt cưả ải Nam Quan như ngày trước, mà cách trước mặt ải về phiá nam một khoảng từ 100 đến 150 thước.

9.-   TÀI LIỆU 9:  Cộng Sản Trung Hoa lấn thêm 300 thước (trước 1975)
    Trong sách Les frontières du Vietnam: Histoire des frontières de la péninsule indochinoise [Biên giới Việt Nam: Lịch sử các biên giới bán đảo Đông Dương] cuả các tác giả thuộc Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Văn hoá Bán đảo Đông Dương ở Paris, ấn hành do sự chủ biên cuả P.B. Lafont, Nxb. L’Harmattan, Paris, 1989, có bài cuả ông Antoine Dauphin nhan đề “La frontière sino-vietnamien de 1895-1896 à nos jours” [Biên giới Hoa-Việt từ 1895-1896 đến ngày nay].  Trong bài nầy, mục “La frontière des années 50 à nos jours” [Biên giới từ những năm 50 đến ngày nay], trang 112, có đoạn viết:  “Lors de la construction, par l’aide chinoise, d’ouvrages “d’amitié” en territoire vietnamien, la partie chinoise aurait, dit aujourd’hui Hanoi, profité de ces travaux pour repousser plus au sud la ligne frontière.  Ainsi par example, lors de la restauration de la voie ferrée de Yên-viên à Đồng-đăng, le point de jonction de la voie chinoise et de la voie vietnamienne aurait été reporté  à 300 mètres à l’intérieur du territoire vietnamien; les Chinois déclarant que ce point de jonction marquait la frontière.
        -        Des bornes-frontières auraient été déplacées.
        -        Des terres vietnamiennes mises en culture par les Chinois auraient été accaparées, etc.”
    Xin tạm dịch: “Từ công cuộc xây dựng, bằng viện trợ Trung Hoa, những công trình “hữu nghị” trên lãnh thổ Việt Nam, phiá Trung Hoa đã, theo lời cuả Hà Nội ngày nay [1989], lợi dụng các công trình nầy để đẩy thêm biên giới xa hơn nưã xuống phiá nam.  Ví dụ, từ khi tái thiết đường xe lưả từ Yên Viên tới Đồng Đăng, điểm tiếp hợp giữa hai đường xe lưả Trung Hoa và Việt Nam được dời đến 300 thước vào bên trong lãnh thổ Việt Nam; người Trung Hoa tuyên bố rằng điểm tiếp hợp đó đánh dấu biên giới[giữa hai nước].
        -        Nhiều cột mốc biên giới đã được dời chỗ.
        -        Nhiều đất đai [trong lãnh thổ] Việt Nam đã được người Trung Hoa khai hoang trồng trọt và chiếm đoạt.”
    Như thế, theo tài liệu nầy, người Trung Hoa đã đã chiếm sâu vào nội điạ Việt Nam thêm 300 thước thêm 300 thước, hay nói cách khác ải Nam Quan đã lùi sâu vào nội điạ Trung Hoa thêm khoảng 300 thước từ khi lập đường xe lửa vào cuối thập niên thập niên 50, đầu thập niên 60.
    Để hiểu rõ vấn đề nầy hơn, có lẽ chúng ta cần theo dõi bài viết của ông Lý Công Luận từ Hà Nội ngày 4-2-2002, được Việt Báo Online, California, đăng lại số 2496, ngày 6-2-2002.  Ông Lý Công Luận viết: “Chuyện về ải Nam Quan thật sự là bi hài có một không hai trong lịch sử nhân loại.  Thời chống Mỹ, để dễ bề tiếp tế Bắc Việt, Cộng Sản Trung Quốc cùng Cộng Sản Bắc Việt thoả thuận làm hệ thống đường sắt nối liền Trung-Việt.  Phiá Trung Quốc làm đường ray (rộng hơn 1,2m) đến biên giới mà thôi.  Còn phiá bên Việt Nam cũng làm đường ray (rộng chưa tới 0,9) đến biên giới.  Đổi bánh ray sẽ thực hiện ở biên giới. Nhưng thời chiến tranh, phiá Bắc Việt thiếu thốn đủ thứ và trình độ kỹ thuật kém, nên khi Trung Quốc đã hoàn tất xong thì bên Việt Nam vẫn chưa xong.  Thế là, “Bác” Mao mới nói với “Bác” Hồ rằng: “Hiện nay, nguyên vật liệu cuủa Trung Quốc còn thừa, Trung Quốc làm hộ cho Việt Nam một đoạn. Hơn nữa, đổi bánh hoặc toa ở biên giới núi non cách trở, không tiện. Tốt nhất đổi vào khu thuộc Việt Nam bằng phẳng hơn cho tiện.  Khi nào hoà bình rồi tháo dỡ ra cũng được.”  “Bác” Hồ vui vẻ nhận lời. Cụm từ “vui vẻ nhận lời” mãi về sau nầy, từ năm 1979 đến nay đã làm cho nhân dân ta khóc ròng. Đoạn đường ray Trung Quốc trên đất Việt có người nói là 400m, có người 4km, theo tôi chắc 400m thì đúng hơn.  Đến năm 1979, Trung Quốc xua quân qua xâm chiếm nước ta, đến khi rút về cho quân đội đội nhổ cột mốc cắm vào điểm cuối đường ray Trung Quốc tạo nên đường biên.  Tôi đã hỏi nhiều người ngày xưa đi du học Trung Quốc, Liên Xô và Đông Âu bằng tàu lưả, người ta cũng công nhận đổi toa ở trong nội điạ Việt Nam, đi mãi tời biên giới có đồn canh Việt Nam và đồn canh Trung Quốc đối diện.  Đến khi hai bên đã hữu hoà rồi, bên Việt Nam định xây lại đồn biên phòng tại ải Nam Quan được trả lời, đất Việt Nam kéo dài tời nơi có đường ray Việt Nam thôi, chớ làm sao trên đất Việt Nam có đường ray Trung Quốc được.”
    Cả hai tài liệu, một do người ngoại quốc viết năm 1989, một do một đảng viên kỳ cựu ở trong nước viết năm 2002, đều xác nhận Cộng Sản Trung Hoa đã lấn thêm đất khi lập điạ điểm chuyển hàng viện trợ.  Tác giả Antoine Dauphin nói rằng CSTH lấn thêm 300 thước. Với âm mưu lấn đất cuả CSTH, nói là 300 thước nhưng biết đâu có thể còn hơn nưã?  Cộng chung với vùng đất mà Pháp đã nhượng bộ khi phân định biên giới năm 1887 (150m), thì biên giới mới cách ải Nam Quan 450 thước (150m + 300m), tức non nưả cây số.  Không ai được biết chiều kia dài bao nhiêu để biết số diện tích đất thực sự đã mất.
    Ngang đây, có lẽ cần tìm hiểu vì sao ông Hồ Chí Minh và đảng CSVN chịu nhượng cho đảng CSTH làm căn cứ chuyển hàng sâu thêm vào trong nội điạ Việt Nam 300 thước?  Trước hết, vào năm 1957, theo chủ trương chung sống hoà bình cuả bí thư thứ nhất đảng CSLX là Nikita Khrushchev, Liên Xô đề nghị hai miền Bắc và Nam Việt Nam cùng vào Liên Hiệp Quốc như hai nước riêng biệt.  Chính phủ Bắc Việt quyết liệt phản đối.(23)  Sau đó, tại hội nghị lần thứ 15 ở Hà Nội ngày 13-5-1959, Uỷ ban Trung ương đảng Lao Động (tức đảng CS) ra nghị quyết thống nhất đất nước (tức đánh chiếm miền Nam bằng vũ lực) và đưa miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa. (Nghị quyết đăng trên nhật báo Nhân Dân (Hà Nội) ngày 14-5-1959)  Nghị quyết trên đây được lập lại trong Đại hội 3 đảng Lao Động, khai diễn từ ngày 5-9 đến ngày 10-9-1960, mệnh danh là "Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà", đưa ra hai mục tiêu lớn của đảng Lao Động là xây dựng miền Bắc tiến lên Xã hội chủ nghĩa và "giải phóng" miền Nam bằng võ lực.(24)  Nói cách khác, ông Hồ Chí Minh và đảng Lao Động chủ trương quyết tâm dùng quân sự đánh chiếm miền Nam.
    Vì chủ trương như thế, Bắc Việt rất cần viện trợ quân sự cũng như kinh tế cuả Liên Xô và CSTH.  Riêng hàng hoá từ Liên Xô qua Việt Nam không thể vận chuyển bằng hàng không vì quá đắt, cũng không thể vận chuyển bằng hàng hải vì bờ biển phiá đông Liên Xô thường bị đóng băng và tàu bè chạy trên biển dễ bị phiá Hoa Kỳ phát hiện.  Chỉ có con đường thuận lợi duy nhất là bằng xe lưả trên đường bộ qua Trung Hoa, đến Việt Nam, vừa rẻ tiền, vừa kín đáo, vưà an toàn.  
    Do tham vọng đánh chiếm miền Nam, Bắc Việt mới thoả thuận để CSTH đặt đường hoả xa sâu trong nội điạ Việt Nam và lập trạm tiếp hợp 300 thước cách đường biên giới cũ thời Pháp thuộc.  Trạm tiếp hợp là điạ điểm chuyển giao hàng, tức đổ hàng từ xe lưả Trung Hoa xuống, rồi chuyển vận hàng lên xe lưả Việt Nam để chở về Hà Nội phân phối.  Có một khác biệt lớn giữa đường sắt Việt Nam và đường sắt Trung Hoa là đường sắt Việt Nam rộng khoảng 0,9m trong khi đường sắt Trung Hoa rộng 1,2m.
    Nếu điạ điểm chuyển hàng nằm trên phần đất Việt Nam thì sợ Hoa Kỳ dùng máy bay oanh tạc.  Có thể CSVN lúc đó thoả thuận với CSTH rằng điạ điểm chuyển hàng, tuy nằm ở phiá nam ải Nam Quan trên 300 thước, nhưng cắm cờ CSTH, để cho biết rằng đây là phần đất cuả Trung Hoa, thì tránh bị Hoa Kỳ đánh phá bằng máy bay, vì Hoa Kỳ không muốn khiêu khích Trung Hoa nhảy vào vòng chiến như đã xảy ra ở Triều Tiên.  Chính tình trạng mập mờ nầy, cộng thêm sự khác biệt về chiều rộng đường sắt, là căn bản để sau nầy CSTH lý luận rằng biên giới cuả họ đến tận cuối đường sắt cuả họ, tức là ngay tại điạ điểm tiếp hợp.
    Sau năm 1975, nghĩa là sau khi thành công trong việc xâm lăng miền Nam, CSVN không còn cần viện trợ nhiều như lúc chiến tranh.  CSVN bắt đầu lo ngại âm mưu xâm lấn cuả “đồng chí” láng giềng phương bắc, nên nghiêng hẳn về phiá Liên Xô để nhờ Liên Xô che chở, và ký với Liên Xô Hiệp ước Hai mươi lăm năm Hỗ tương và Phòng thủ  ngày 3-11-1978.  Cộng sản Liên Xô lại sụp đổ năm 1991.  CSVN đành phải quay lại tìm hậu thuẫn cuả CSTH.  Lần nầy, CSTH liền chụp lấy thời cơ, lợi dụng tình trạng mập mờ ở vùng Nam Quan từ mấy mươi năm nay, để buộc CSVN ký hiệp ước nhượng đất.

10.-   TÀI LIỆU 10:  Tài liệu cuả đảng Cộng Sản Việt Nam sau cuộc chiến 1979
    Sau khi cưỡng chiếm được miền Nam, CSVN từ bỏ chính sách trung lập giữa hai nước cộng sản đàn anh là Liên Xô và CHNDTH, mà hoàn toàn ngả về phiá Liên Xô.  Bang giao giữa Việt Nam và CHNDTH trở nên căng thẳng.  Vào giữa năm 1978, Trung ương đảng CSVN ra nghị quyết và bạch thư nói rằng CHNDTH là “kẻ thù trực tiếp, kẻ thù nguy hiểm cuả nhân dân Việt Nam; phải đánh đổ nhóm cầm quyền phản động thân Mao ở Bắc Kinh...”(25)
    Ngày 17-2-1979, CHNDTH đưa trên 200.000 quân tấn công CHXHCNVN ở sáu tỉnh biên giới.  Cuộc chiến nầy cóù thể chia thành 3 giai đoạn: thứ nhất từ 17đến 26-2, Trung Hoa tràn quân xâm lăng Việt Nam; thứ nhì từ 26-2 đến 5-3 hai bên cầm cự và những trận chiến đẵm máu xảy ra; thứ ba, từ 5 đến 16-3, Trung Hoa tuyên bố đã đạt được những mục đích đề ra và quyết định rút quân về.
    Sau khi chiến tranh chấm dứt, CSVN đưa ra thêm một tài liệu nhan đề Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua, lên án chính sách bành trướng cuả CSTH và tố cáo nhà cầm quyền Bắc Kinh “tiếp tục chống Việt Nam bằng mọi thủ đoạn”.  Trong sách nầy, có đoạn viết: “Những người cầm quyền Trung Quốc đã tuyên bố rút quân về bên kia đường biên giới, nhưng thực tế cho đến nay quân cuả họ tiếp tục chiếm đóng hơn mười điểm trên lãnh thổ Việt Nam, xây dựng thêm công sự ở các nơi đó, vi phạm trắng trợn đường biên giới do lịch sử để lại mà cả hai bên đã thoả thuận tôn trọng.  Suốt dọc biên giới Việt - Trung, họ tiếp tục bố trí nhiều quân đoàn có pháo binh và thiết giáp yểm trợ, tăng cường các phương tiện chiến tranh, ra sức xây dựng các công trình quân sự, thường xuyên diễn tập quân sự, tung các đội thám báo, biệt kích xâm nhập nhiều khu vự cuả Việt Nam... Có nơi họ cho bắn súng cối hạng nặng suốt ngày, có nơi họ cho một tiểu đoàn quân chính quy tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam hơn 4 ki-lô-mét, bắn giết dân chúng, đốt phá nhà cưả và phá hoại hoa màu...”(26)
    Những lời báo động trong tập tài liệu nầy cho thấy tình hình toàn thể biên giới Việt Hoa càng ngày càng xấu đi sau cuộc chiến năm 1979.  Riêng tại ải Nam Quan, trước năm 1975, CSTH đã lấn về phiá nam cửa ải trên 300 mét so với đường biên giới cũ thời Pháp thuộc.  Tài liệu trên đây không trực tiếp đề cập đến khu vực ải Nam Quan sau cuộc chiến năm 1979, nhưng tại đây nếu CSTH không tiến tới thêm, thì cũng không lùi lại chút nào, và chắc chắn CSTH càng ngày càng củng cố vị thế cuả họ tại vùng biên ải nầy.

11.-   TÀI LIỆU 11:  Hiệp ước ngày 30-12-1999
    Sau khi Liên Xô sụp đổ, CSVN hoàn toàn mất hậu thuẫn vừa kinh tế, vừa quân sự, không còn đủ sức đối kháng với CHNDTH, nên phải thay đổi chính sách ngoại giao.  Lúc đó, ý đồ cuả CSVN là làm thế nào vừa duy trì quyền lực độc đảng độc tôn cộng sản, vừa cải cách kinh tế theo đường lối thị trường tự do mà không hại đến quyền lực và quyền lợi cuả đảng CS.  CSVN liền kiếm cách thân thiện trở lại với CHNDTH, nhắm nhờ CHNDTH để duy trì ý thức hệ và quyền lực cộng sản.  Lợi dụng cơ hội nầy, CSTH ép CSVN phải ký hiệp ước về biên giới trên đường bộ cũng như trên mặt biển.
    Ngày 30-12-1999, tại Hà Nội, bộ trưởng Ngoại giao CHXHCNVN là Nguyễn Mạnh Cầm và bộ trưởng Ngoại giao CHNDTH là Đường Gia Truyền (Tang Jianxuan) cùng ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc.  Hiệp ước nầy được quốc hội Bắc Kinh thông qua ngày 29-4-2000 và quốc hội Hà Nội thông qua 9-6-2000.  Đặc biệt là khi thông qua hiệp ước biên giới nầy, chỉ một số ít lãnh đạo cao cấp trong quốc hội Hà Nội mới đọc được nội dung hiệp ước, còn đại đa số dân biểu không biết gì cả, chỉ thông qua theo lệnh của đảng CSVN.(27)  Nội dung hiệp ước nầy chưa được tiết lộ ra ngoài.
    Hiệp ước nầy rất bí mật, nhưng trước Đại hội 9 đảng CSVN (từ 19 đến 22-4-2001), ông Đỗ Việt Sơn, một đảng viên CS lão thành (54 tuổi đảng, 78 tuổi đời), ở số 26/14-125 đường Tô Hiệu, Hải Phòng, đã gởi thư vào tháng 2-2001 công khai đặt vấn đề Việt Nam nhượng bộ quá nhiều cho Trung Quốc trong hai hiệp ước trên, và yêu cầu Quốc hội và Đại hội 9 đảng CSVN công khai thảo luận vấn đề nầy.(28) Có thể ông Đỗ Việt Sơn biết được tin nầy qua hệ thống đảng CSVN, hoặc qua những người đi cắm cột mốc biên giới để thực thi hiệp ước.  Từ đó người ta mới biết đến hiệp ước và nổ ra phong trào phản đối việc ký kết hiệp ước nầy.
    Đảng CSVN đã giao cho ông Lê Công Phụng, thứ trưởng Ngoại giao, Trưởng đoàn đàm phán CSVN về vấn đề biên giới với CSTH, viết bài biện minh.  Trong bài  “Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ và hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam-Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ” đăng trên tạp chí Cộng Sản, Hà Nội, số 2 tháng 1-2001, ông Lê Công Phụng giải thích tiến trình đàm phán hai bên như sau: “Hai nước đã ký “Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới – lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc” ngày 19-10-1993... Thực hiện thỏa thuận đó, từ 1993 đến năm 2000, hai bên đã triển khai 7 vòng đàm phán cấp chính phủ, 3 cuộc gặp giữa hai Trưởng đoàn đàm phán cấp chính phủ và 18 vòng đàm phán cấp chuyên viên... Trong các chuyến thăm Trung Quốc vào năm 1997 của đồng chí tổng bí thư Đỗ Mười và tháng 2-1999 của đồng chí tổng bí thư Lê Khả Phiêu, lãnh đạo cao cấp hai nước đạt được thỏa thuận là khẩn trương đàm phán để giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền trước năm 2000 và hoàn thành việc phân định để ký hiệp định vịnh Bắc Bộ trong năm 2000...” (29)
    Đọc đoạn văn nầy, có một câu hỏi được đặt ra là tại sao hai bên lại phải “... khẩn trương đàm phán...”?  Và tại sao phải “... giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền trước năm 2000 và hoàn thành việc phân định để ký hiệp định vịnh Bắc Bộ trong năm 2000...”?  Vấn đề biên giới, thuộc phạm vi tranh tụng đất đai, đã tranh chấp cả hàng ngàn năm nay rồi, và sẽ còn tranh chấp cả hàng ngàn năm tới, nhưng tại sao lại phải thanh thoả trong thời gian ngắn như thế?  Vì tham vọng đất đai, muốn chiếm ngọn đèo chiến lược để sau nầy dễ tiến hành xâm lấn, CSTH nôn nóng giải quyết là chuyện bình thường, nhưng về phiá CSVN sao mà vội vàng như vậy?
    Sau đó, trong tài liệu được Hà Nội đưa lên mạng lưới thông tin quốc tế (internet), viết dưới hình thức phỏng vấn, do Công Ty Phát Triển Phần Mềm (VASC-Orient) thực hiện ở Hà Nội ngày 28-1-2002, ông Lê Công Phụng đã đề cập đến tình hình ải Nam Quan sau hiệp ước 30-12-1999 như sau: “Chúng ta cũng biết là ải Nam Quan là cuối khúc sông.  Nếu chúng ta bắt đầu tính biên giới từ chân tường hoặc chia đôi cửa Mục Nam Quan [danh xưng do Mao Trạch Đông đặt] thế cũng không được.  Còn cột mốc số không – nhân dân Lạng Sơn báo cáo với Trung ương, Chính phủ và các nhà đàm phán rằng cột mốc có từ khi những người già chưa ra đời.  Chúng ta tôn trọng cơ sở pháp lý đã có, tôn trọng thực tiễn, nhất là vì lâu nay quản lý đã như vậy.  Cho nên hiện nay chúng ta công nhận Mục Nam Quan là cuả Trung Quốc, cách cột mốc số 0 trên 200 m.  Tính cột mốc số không về phía Nam là lãnh thổ của Việt Nam.  Từ cột mốc số 0 về phía bắc là cuả Trung quốc.”(30)
    Một điểm cần chú ý là “cột mốc số 0” mà ông Lê Công Phụng nói là cột nào, do ai dựng nên?  Đó là cột mốc số 0 nguyên thuỷ thời Pháp thuộc, hay cột mốc đã dời sau chiến tranh năm 1979, hay là cột mốc số 0 mới được CSVN dựng sau năm 2000?
    Như trên đã viết, biên giới Việt Hoa trước 1975 đã cách ải Nam Quan 450 thước.  Năm 1979, nhân chiến tranh biên giới, quân CSTH một lần nưã dời thêm các cột mốc biên giới xuống sâu vào nội điạ Việt Nam.  Vậy mà sau Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc ngày 30-12-1999, ông Lê Công Phụng nói rằng ải Nam Quan chỉ cách cột mốc số 0 trên 200 thước, vậy có đáng tin không?  Điều nầy để độc giả tự trả lời.  Dầu ông Lê Công Phụng có biện minh thế nào đi nữa, thì CSVN cũng đã để mất ải Nam Quan, con đường đèo chiến lược, một cảnh quan thiên nhiên đầy dấu tích lịch sử dân tộc.

TẠM KẾT
    Tóm lại, các sử liệu trên về ải Nam Quan dầu chưa đầy đủ, vẫn cho thấy một số điểm sau đây:
*  Tại vùng Pha Luỹ thuộc xã Đồng Đăng, huyện Văn Uyên, tỉnh Lạng Sơn, có một ngọn ải thiên nhiên, là chiếc đèo hẹp thông thương sang Trung Hoa.  Trên đỉnh ải Pha Luỹ thiên nhiên, người Trung Hoa xây dựng một cưả hay cổng lớn và đặt tên là Nam Quan (người Pháp gọi là “Porte de Chine” nghĩa là “Cưả Trung Hoa”).  Từ đó người Việt Nam gọi ải Pha Luỹ là ải Nam Quan, và cái cổng cuả Trung Hoa cũng là ải Nam Quan.  Tuy cùng danh xưng là “ải Nam Quan”, nhưng cần phân biệt “ải Nam Quan” là cảnh quan thiên nhiên và “ải Nam Quan” là kiến trúc nhân tạo. 
Lúc đó, biên giới giữa hai nước nằm ngay tại mặt cưả (cổng) ải nầy.  Người Trung Hoa đã xây cổng hay cưả ải lớn rồi, nên ngay đối diện với cổng Trung Hoa, khi xây dựng các công trình kiến trúc cuả mình, chính quyền nước ta chỉ xây một dãy nhà (nhỏ hơn so với cưả ải Trung Hoa) để sử dụng trong việc ngoại giao, vì không lẽ người Việt xây thêm ngay tại đó một cưả ải nưã?  (Người hàng xóm đã xây một hàng rào, không lẽ chúng ta thêm một hàng rào nưã?)
*   Suốt trong lịch sử dân tộc, dựa vào vị trí thiên nhiên hiểm trở cuả ải Nam Quan và cuả nhiều ngọn ải khác, người Việt đã kháng cự lại các cuộc xâm lăng cuả Bắc phương.  Tổ tiên chúng ta chưa bao giờ nhượng bộ một tấc đất cho ngoại bang.  Vua Mạc Đăng Dung giao năm động trong vòng tranh chấp với nhà Minh, mà bị lịch sử lên án mãi cho đến nay.  Nhà cầm quyền CSVN hiện nay đang tâm ký hiệp ước ngày 30-12-1999 chính thức giao ải Nam Quan cho CSTH.  Khi nói CSVN làm mất ải Nam Quan, có nghĩa là làm mất điạ vực đèo Nam Quan, một cảnh quan thiên nhiên hiểm trở làm tiền đồn chống ngoại xâm.
Trên biên giới Việt Hoa từ tây sang đông, có rất nhiều cưả ải qua lại giữa hai nước Việt Hoa.  Riêng ải Nam Quan chẳng những giữ một vị trí quan trọng trong điạ lý, trong lịch sử, trong bang giao quốc tế, trong văn học, và đặc biệt cả trong tâm khảm cuả người Việt.  Cường quyền và bạo lực đã tạm thời cắt ải Nam Quan ra khỏi bản đồ nước ta, nhưng cường quyền và bạo lực không thể nào xoá bỏ hình ảnh ải Nam Quan trong trái tim người Việt chúng ta.  Ải Nam Quan là biểu tượng đầy tự hào cuả dân tộc, là hồn thiêng sông núi cuả đất nước.  Nước ta từng bị Trung Hoa đô hộ gần một ngàn năm, rồi chúng ta giành được độc lập.  Nước ta từng mất toàn bộ 6 tỉnh Nam Kỳ năm 1874, rồi Nam Kỳ chính thức trở về với tổ quốc năm 1949.  Lần nầy, vấn đề ải Nam Quan trong thời hiện đại tuy khó, nhưng “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông” (lời Nguyễn Bá Học), vấn đề là chúng ta có đoàn kết và kiên tâm giữ vững ý chí như tổ tiên chúng ta hay không?

Trần Gia Phụng 

CHÚ THÍCH:
1.      *  J. F. M. Genibrel, Tự điển Việt Pháp – Dictionnaire Vietnamien-Français, Deuxième Édition, Saigon, Imprimerie de la Mission à Tân Định 1898, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn, chụp in lại, tr. 3: “Ải: Endroit étroit, Défilé, Frontière.” và “Ải quan: Défilé des frontières, Frontière.” 
*   Lê Ngọc Trụ, Việt-ngữ chánh-tả tự-vị, Nxb. Thanh Tân, Sài Gòn, 1959, tr. 2: “Ải: chỗ đất hiểm, hẹp nhỏ; chỗ giáp hai ngọn núi hoặc hai nước.”
*   Hoàng Phê (chủ biên) và một số tác giả, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội 1988 tr. 19: “Ải: Chỗ qua lại hẹp và hiểm trở ở biên giới hoặc trên đường tiến vào một nước.”
2.      Quốc sử quán triều Nguyễn, Việt sử thông giám cương mục, bản dịch Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội 1957, tr. 741.
3.      Theo giáo sư Dương Quảng Hàm, “vân” là một loại cỏ chống lại sâu cắn sách, nên sách goị là “vân biên”, và nơi đọc sách là “vân đài”. (Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, in lần thứ 7, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Sài Gòn, 1960, tt. 293 (chú thích 33).
4.      Ung Chính (Yung-chen):  niên hiệu duy nhất của vua Thanh Thế Tông (trị vì 1723-1735). 
5.      Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, Phạm Vũ và Lê Hiền dịch và chú giải, Sài Gòn 1972, Tự Lực, Hoa Kỳ tái bản, không đề năm, tt. 160-162.
6.      Gia Tĩnh:  niên hiệu duy nhất của vua Trung Hoa là Minh Thế Tông (trị vì 1522-1566). 
7.      Nguyên Hoà:  Sau khi Mạc Đăng Dung đảo chánh, lật đổ nhà Lê, giết vua Lê Chiêu Tông năm 1526 và em Lê Chiêu Tông là vua Lê Cung Hoàng năm 1527, lập ra nhà Mạc, thì một cựu thần nhà Lê là Nguyễn Kim (1468-1545) bỏ trốn qua Lào.  Nguyễn Kim tìm được người con út cuả Lê Chiêu Tông tên là Lê Duy Ninh, lập lên làm vua tức Lê Trang Tông (trị vì 1533-1548), trung hưng nhà Lê.  Lê Trang Tông lấy niên hiệu là Nguyên Hoà.  Vì các nhà viết sử ngày trước xem nhà Mạc là ngụy triều, nên không dùng niên hiệu cuả nhà Mạc, mà chỉ dùng niên hiệu cuả nhà Lê.
8.      Càn Long (Ch’ien-lung / Qianlong):  niên hiệu duy nhất của vua Thanh Cao Tông (trị vì 1736-1795).
9.      *  Vua ta kỷ nguyên năm thứ 46 [1785] là năm ất tỵ:  Vua ta ở đây là vua Lê Hiển Tông, niên hiệu là Cảnh Hưng, trị vì 1740-1786.
*  Bài văn bia nầy trích từ Nguyễn Văn Siêu, Phương Đình dư điạ chí, bản dịch cuả Ngô Mạnh Nghinh, Nxb. Tự Do, Sài Gòn, 1960, tt. 268-269.  Phương Đình dư điạ chí đề tưạ năm 1862, gồm 5 quyển: quyển đầu trích lục các sách Trung Hoa viết về nước ta, quyển 2 viết về điạ lý chí nước ta thời Hậu Lê, quyển 3 đến quyển 5 chép về thời cận kim.  [Dịch giả Ngô Mạnh Nghinh, sinh năm 1893, đỗ cử nhân Nho học năm 1915, cùng khoa với hai em là Ngô Trọng Nhạ (sinh 1897) và Ngô Thúc Địch (sinh năm 1900).  Về sau, ông Ngô Mạnh Nghinh đã dạy Hán văn ở Đại học Văn khoa Sài Gòn từ 1954 đến 1960.]
10.    Cần chánh điện học sĩ không phải là một chức quan, mà là một hàm tước, phong cho những người có công với triều đình. (Trần Thanh Tâm, Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn, Nxb. Thuận Hoá, 1996, tr. 71.)
11.    Bài thơ nầy trích từ mục “Bắc hành tạp lục (1813-1814)”, đăng trong Nguyễn Du toàn tập, do Mai Quốc Liên chủ biên, Nguyễn Quảng Tuân, Ngô Linh Ngọc, Lê Thu Yến hợp soạn, Nxb. Văn Học, Hà Nội, 1996, tr. 295.
12.    Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, bản dịch cuả Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992, tập một, tr. 154.
13.    Theo Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, in lần thứ 7, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Sài Gòn, 1960, tt. 341 (chú thích 9), 354.
14.    Cao Bá Quát (? – 1854), hiệu là Chu Thần, người xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Bắc Ninh, đỗ cử nhân năm 1831, làm Giáo thụ Quốc Oai (Sơn Tây).  Ông là người tài ba và rất tự hào về sở học cuả mình nên thường bị các quan trên đè nén.  Năm 1854, Cao Bá Quát tham gia cuộc nổi dậy cuả Lê Duy Cự ở Sơn Tây, bị thất bại và bị bắt giết.  Cuộc nổi dậy cuả Lê Duy Cự thường được gọi là “giặc châu chấu”, nhân vì trong năm đó ở Bắc Ninh và Sơn Tây bị nạn châu chấu phá hoại muà màng, nên người ta gọi như thế.(Theo Dương Quảng Hàm, sđd. tt. 341-342, chú thích 10.)
Tùng Thiện Vương (1819-1870) tên là Nguyễn Phúc Miên Thẩm, con trai thứ 10 cuả vua Minh Mạng (trị vì 1820-1840), em cuả vua Thiệu Trị (trị vì 1840-1847), và là chú cuả vua Tự Đức (trị vì 1847-1883).
Tuy Lý Vương (1820-1897) tên thật là Nguyễn Phúc Miên Trinh, con trai thứ 11 cuả vua Minh Mạng, em cuả vua Thiệu Trị và Tùng Thiện Vương, chú cuả vua Tự Đức.
15.    Nguyễn Văn Siêu, sđd.  tt. 268-269. 
16.    Theo các số liệu ngày nay, ải Nam Quan cách thành phố Lạng Sơn khoảng 17 cây số về phía bắc.
17.    Theo Từ điển Việt Pháp của J.F.M. Genibrel, Nhà in Tân Định, Sài Gòn, 1898, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn, chụp in lại năm 1973, thì  1 trượng = 10 xích; 1 xích = 0,487 m.; vậy 1 trượng = 4,87 m. Theo những dịch giả bộ Cương mục thì: 1 trượng = 10 thước,  1 thước Tàu = 0,3333 thước tây, vậy 1 trượng = 3,33 m. (Quốc sử quán triều Nguyễn, Việt sử thông giám cương mục, viết tắt là Cương mục, bản dịch Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội 1957, , sđd. tr. 160.)
18.    Đại Nam nhất thống chí, viết tắt ĐNNTC, Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Thuận Hóa, 1997, tập 4, tt. 384-385.
19.    ĐNNTC, sđd. tr. 385.
20.    Tuy khoản 2 và 3 hoà ước Giáp Tuất (1874) ký kết giữa Dupré và Lê Tuấn tại Sài Gòn ngày 27-1 giáp tuất (15-3-1874) nói rằng Việt Nam phải theo chính sách ngoại giao cuả Pháp và không thần phục nước nào khác, nhưng sau đó, triều đình vẫn cử người sang Trung Hoa nhờ nhà Thanh giúp đỡ.  Tuy nhà Thanh đang lúng túng trước cuộc xâm lăng cuả Tây phương, nhà Thanh vẫn cử quân sang Việt Nam, lấy cớ tiểu trừ loạn lạc, nhưng thực tế muốn chờ đợi cơ hội để trục lợi. 
Năm 1882, Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhì rồi tung quân đánh chiếm các tỉnh Bắc Kỳ.  Trong khi đang hành quân ở Bắc Kỳ, một cánh quân Pháp do y sĩ Jules Harmand cùng đô đốc Courbet vào đánh Huế tháng 8-1883.  Kinh thành thất thủ.  Cuộc thương thuyết giữa đại diện triều đình Huế là Trần Đình Túc và Nguyễn Trọng Hợp cùng Harmand và Courbet đưa đến hòa ước ngày 25-8-1883 (23-7-quý mùi), thường được gọi là hòa ước Quý Mùi hay hòa ước Harmand, gồm 27 khoản theo đó Việt Nam chịu nhận để Pháp bảo hộ, việc ngoại giao do Pháp phụ trách, tỉnh Bình Thuận thuộc về Nam Kỳ, tỉnh Hà Tĩnh trở ra thuộc Bắc Kỳ, triều đình Huế trực tiếp cai trị từ Quảng Bình vào đến Khánh Hòa...
Tuy triều đình đã ký hoà ước, nhưng các quan ở ngoài Bắc vẫn muốn tiếp tục chiến đấu và nhờ quân Trung Hoa giúp đỡ.  Ngoài quân Cờ Đen cuả Lưu Vĩnh Phúc, quân nhà Thanh vẫn còn đóng rải rác ở Lạng Sơn, Cao Bằng và Lào Cai.  Pháp liền cử trung tá Fournier đến Thiên Tân thương thuyết và ký với Tổng đốc Lý Hồng Chương ngày 12-5-1884 một tạm ước (Thiên Tân 1 hay Fournier) gồm 5 khoản đại ý nhà Thanh tôn trọng những hoà ước ký kết giữa Pháp và Việt Nam, thuận rút hết quân Trung Hoa về nước; ngược lại Pháp tôn trọng biên giới giữa Trung Hoa và Việt Nam, từ bỏ số tiền bồi hoàn chiến phí mà Trung Hoa phải chịu (riêng phần Pháp) trong chiến tranh chống các nước tây phương xâm lăng Trung Hoa. 
Sau khi ký tạm ước Thiên Tân, theo lời yêu cầu cuả Việt Nam giảm nhẹ hoà ước 1883, Pháp quay qua ký với Việt Nam hoà ước ngày 6-6-1884 (13-5-giáp thân) giữa Jules Patenôtre đại diện Pháp và Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật và Tôn Thất Phan, đại diện Việt Nam.  Hoà ước nầy thường được gọi là hoà ước Giáp Thân hay hoà ước Patenôtre, gần giống hoà ước 1883, chỉ sưả đổi đôi chút mà thôi. 
Tuy nhiên, về phiá Trung Hoa, quân nhà Thanh vẫn còn ở Bắc Kỳ, đánh Tuyên Quang, Lạng Sơn.  Sứ thần Pháp ở Trung Hoa là Jules Patenôtre lại thương thuyết với Lý Hồng Chương và ký hoà ước Thiên Tân lần nưã ngày 9-6-1885 (Thiên Tân 2) theo đó Trung Hoa công nhận Pháp bảo hộ Việt Nam; ngược lại Pháp trả lại Trung Hoa các vùng hải quân Pháp đã chiếm ở duyên hải Trung Hoa và Pháp bỏ khoản tiên bồi hoàn chiến phí trước đây Trung Hoa hưá trả cho Pháp.
21.    Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb. Tân Việt, Sải Gòn, in lần thứ bảy, 1964, tr. 546.
22.    Pháp tự ý nhượng bộ mà không có ý kiến về phiá Việt Nam.  Chẳng những thế, Pháp còn nhượng bộ ở nhiều vùng khác nưã.  Tác giả Charles Fourniau, trong bài “La frontière sino-vietnamienne et le face à face franco-chinois à l’époque de la conquête du Tonkin” [Biên giới Hoa-Việt và sự đối mặt Pháp-Hoa vào giai đoạn chinh phục Bắc Kỳ], đăng trong Les frontières du Vietnam: Histoire des frontières de la péninsule indochinoise [Biên giới Việt Nam: Lịch sử các biên giới cuả bán đảo Đông Dương] cuả các tác giả thuộc Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Văn hoá Bán đảo Đông Dương ở Paris, do sự chủ biên cuả P.B. Lafont, Nxb. L’Harmattan, Paris, 1989, trang 92, đã viết: “La convention de la délimitation de la frontière signée le 26 juin 1887 acceptait donc l’abandon d’une partie des territoires où un litige subsistait entre les deux commissions: les deux principaux étaient, l’un sur la frontière du Yunnan, le canton de Tulong, tout entier territoire de l’Empire annamite et dont les trois quarts environ, soit 750 km2, étaient laissés à la Chine, et l’autre, à l’extrémité est de la frontière du Guandong, le cap Packlung et “l’enclave annamite”.  Or cette dernière concession était doublement importante: elle enlevait un territoire au Vietnam et elle determinait la fixation de la frontière maritime, et l’appartenance des iles côtières...” (Xin tạm dịch: “ Quy ước phân định biên giới ngày 26-6-1887 chấp nhận bỏ một phần lãnh thổ mà mối tranh tụng còn tồn đọng giữa hai uỷ ban: hai sự từ bỏ chính yếu là,  một ở biên giới Vân Nam, tổng Tụ Long, hoàn toàn trong phần đất Việt Nam mà khoảng ba phần tư diện tích, tức 750 cây số vuông, đã giao cho Trung Hoa, và sự từ bỏ kia ở cực đông biên giới Quảng Đông, đảo Packlung [Bạch Long] và “phần đất lõm vào phiá Trung Hoa cuả Việt Nam” [phần đất cuả Việt Nam lồi qua phiá Trung Hoa].  Như thế, sự nhượng bộ cuối cùng nầy mang một tầm quan trọng kép:  Nó lấy đi một phần lãnh thổ cuả Việt Nam và quyết định cho việc cố định hải phận và sự tuỳ thuộc các đảo ven biển...”
23.    William J. Duiker, Ho Chi Minh, Nxb. Hyperion, New York, 2000, tr 500.
24.    Chính Đạo, Việt Nam niên biểu 1939-1975, Tập I-C: 1955-1963, Nxb. Văn Hoá, Houston, 2000, tt. 152, 180.
25.    Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, hồi ký viết lời tựa tại Bắc Kinh năm 1986, nhóm Tìm hiểu lịch sử, Portland, Oregon, xuất bản, 1991, tt. tt. 426.
26.    Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1981, Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua (in lần thứ hai), tt. 92-93.
27.    Nguyễn Thanh Giang (trong nước) trả lời phỏng vấn ngày 24-2-2002 của Đài Phát thanh Little Sài Gòn, Orange County, California.  Người Việt Online, ngày 25-1-2002, mục “Tin Việt Nam”.
28.    Thư nầy được phổ biến hạn chế, về sau được nhắc lại trong kháng thư ngày 18-11-2001 của 20 cử tri gởi các chức quyền Việt Nam.  (Tạp chí Việt Nam Dân Chủ, tháng 12-2001, http:www.lmvntd.org/dossier/0111
knghi.htm.)
29.    Lê Công Phụng, “Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ và hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam-Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ”, đăng trên tạp chí Cộng Sản, Hà Nội, số 2 tháng 1-2000.
30.   Bài phỏng vấn ông Lê Công Phụng ngày 28-1-2002 cuả đại diện Công Ty Phát Triển Phần Mềm (VASC Orient) thực hiện ở Hà Nội được đưa lên internet theo địa chỉ vnn.vn/pls/news/VASC_Orient. Hiện nay, nhiều sách báo ở Bắc Mỹ đã đăng lại đầy đủ bài phỏng vấn nầy, trong đó có báo Truyền Thông (Communications), St. Leonard, Quebec, Canada, số 3, tháng 3-2002, tt. 52-58.



02-01-2006

TỬ SĨ HOÀNG SA
Anh hùng Ngụy Văn Thà

QUỐC KỲ và QUỐC CA VN

Bài chọn đăng
Đại Sứ Mỹ J. C. Stevens
Chuyến hải hành sau cùng HQ
TT Thiệu với Hải chiến HS
Báo Tàu: Hải chiến Tây Sa74
Thủy xa vận mới EFV của Mỹ
Chiến Hạm HQ/VNCH di tản 75
Vì sao mất Thác Bản Giốc?
Đường Mòn Hồ Chí Minh
Tàu chiến tàng hình của Mỹ
Tiên Lãng: Đối kháng vũ lực
Your IP : 3.80.55.37    Sử LiệuTài liệu lịch sử Việt NamVài sử liệu Ải Nam Quan  

Copyright © 2003 - 2019 hqvnch.net
Website: 9774365 hits Page generated in: 0.171875 secs Webmaster