HomeTưởng NiệmThời SựHải QuânSử LiệuTìm hiểuSưu TầmVideoGiải TríLinks
Viewed: 8869901 
Hải QuânHải Quân VNCHTài liệu Hải Quân VNCHGiang Đoàn Xung Phong
   
Tài liệu Hải Quân VNCH
Những câu chuyện hải hồ

Phong Trào Dân Chủ VN
Báo Tự Do Ngôn luận ra đời, một bước đột phát trong nỗ lực phá vỡ chính sách độc tai bưng bít thông tin của CSVN.
Báo Tự Do Dân Chủ  ra đời, ngày 2 tháng 9 năm 2006, tại thủ đô Hà Nội.
Tòa án man rợ Cộng sản VN bịt miệng Linh mục Nguyễn Văn Lý.

Hoàng Sa&Trường Sa
Lực lượng Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa 1974
Tài liệu giá trị lich sử do Hải sư Thềm Sơn Hà sưu tìm.
Đại cương về Quần đảo Hoàng Sa 
Hình ảnh - Địa lý - Khí hậu - Vị trí chiến lược. 
Bài sưu tầm của Hải sư Thềm Sơn Hà
HQ10 đi vào lịch sử 
Trận Hải chiến 19/01/1974 chống Trung Cộng xâm lăng.
HQ5 và Hải chiến Hòang Sa 1974 
Hồi ký của Trương Văn Liêm
Biến cố Trường Sa tháng 2-1974
VNCH mở cuộc hành quân Trần Hưng Đạo 48 tại Trường Sa cuối tháng 1/1974 để cũng cố chủ quyền VN ngăn ngừa tham vọng bành trướng của Trung cộng lấn chiếm quần đảo Trường Sa

 

Tài liệu Hải Quân VNCH
Lực Lượng Đặc nhiệm 99
Một tài liệu sống thực để cho các thế hệ mai sau hiểu thêm về nỗi đau đớn của một cuộc tương tàn mà người Việt Nam dù Nam hay Bắc, đã không làm chủ được... 
Hình thành HQ/VNCH
Bài sưu tầm của Bảo Bình Nguyễn Văn Ơn
Sea Float Năm Căn
Chiến dịch Trần Hưng Đạo 4 bình định Năn Căn Cà Mau do Hải sư Trương Thanh Việt sưu tầm.


GIANG ĐOÀN XUNG PHONG

Nguyễn Văn Ơn

    Mùa Thu năm 1945, sau khi tái chiếm Saigon và Tây-Ninh, Pháp dự trù lấy lại các tỉnh lỵ nằm trong vùng đồng bằng miền Tây, trước hết là thành phố Mỹ-Tho sát ven thủ đô. Lúc đó, trở ngại lớn của Pháp trong kế-hoạch bình định vùng này là quốc-lộ độc nhất số 4 đã bị cắt đứt làm nhiều đoạn, do VMCS phá hoại hệ-thống cầu đường trước khi rút ra bưng, khiến cho trục giao thông giữa Saigon và Mỹ-Tho chỉ còn đường thủy mà thôi. Đại-tướng Philippe Leclerc, Tư-lệnh Lục-quân Pháp tại Đông-Dương thấy rằng muốn chiếm lại các tỉnh vùng châu-thổ sông Cửu-Long, đầy sông ngòi chằng-chịt như mạng nhện dài đến 5.550 Km # 3.000 Hải-lý, thì chỉ có ‘Hải-quân Nước-Ngọt'  (Brown Water Navy) mới đủ khả-năng làm được việc này. Mặc dầu đến Việt-Nam chỉ mới có mấy tháng, nhưng Leclerc với viễn-kiến về địa-hình đặc biệt của miền Nam, đã đi đến quyết-định là phải sử-dụng Hải-quân trong sông mới chiến thắng được. Điều này, theo Đại-tá Thủy-quân Lục-chiến (TQLC) Victor Croizat, chứng tỏ tài ba của Leclerc vượt trội hơn tướng kế-nhiệm của ông ta là Jean Étienne Valuy rất nhiều.

1- LÝ-THUYẾT VỀ HẢI-ĐOÀN XUNG-PHONG (HĐXP) PHÁP.
    Ngày 02 tháng 10 năm 1945, với tư cách tướng-lãnh thâm-niên hiện-diện (according to seniority), Leclerc ủy-nhiệm cho Phó Đề-đốc (Commondore=Naval Brigadier General) Francois Jaubert thiết-kế hành-quân bình định các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu-Long mà lực-lượng Hải-quân Pháp trong sông sẽ chỉ-huy tất cả các cuộc hàng-quân thủy-bộ (amphibious operation).
   
    Để thành công trong công-tác được giao phó, Phó Đề-đốc Jaubert đề ra quan-niệm hành-quân thật mới mẻ cho các cuộc hành-quân thủy-bộ là ‘ Lực-lượng trong sông phải phối hợp ăn khớp với nhau để khai thông và làm chủ mọi thủy-trình từ cửa sông đến thượng nguồn’(Jaubert’s concept of combined armes riverine units capable of operating even in small creeks and estuaries)’ (01). Ngoài ra, Jaubert cũng dựa vào lý-thuyết quân-sự của danh-tướng Phổ Carl Von Clausewitz đầu thế-kỷ 19, trong quyển ON WAR là ‘Phải có chiến-cụ rồi mới xác quyết được chiến-thuật ’ (02).

    Vì vậy trên phương diện tân tạo chiến-cụ, Jaubert cố gắng ghép các sà-lan, các xuồng (chaland, barge) lại với nhau thành bè rồi dung Tiểu-vận-đĩnh (LCVP) hoặc Trung-vận-đĩnh (LCM) đẩy bè chở chiến-xa và bộ-binh của Trung-tá Ponchardier đến tận nơi đổ quân. Sau khi tạo được chiến-cụ tạm thời rồi, Jaubert theo phương-pháp quân-sự cổ-điển mà đặt ra bình-phong chiến-thuật (Tactical screen) cho đội-hình di chuyển trong sông của đơn vị Thủy-bộ này. Cũng theo Jaubert, việc bảo vệ an toàn cho cánh quân đổ bộ được đặt lên hàng đầu, cho nên các tổ của bình-phong có nhiệm vụ liên-hoàn là phải yểm trợ lẫn nhau cho đến khi bộ-binh rời chiến đĩnh để xung-phong chiếm mục-tiêu trên bờ. Điển-hình, trong cuộc hành-quân Moussac chiếm lại Mỹ-Tho ngày 25 tháng 10 năm 1945 và Vĩnh-Long ngày 29 tháng 10 năm 1945, lần đầu Jaubert điều động đơn vị phối hợp này đúng theo từng giai đoạn thiết-kế và phát-huy được năng lực thủy-bộ (Promote amphibian ability). Sau cùng, ông ta đặt tên cho đơn vị tân lập này là DINASSAUT= Divisions Navales D’Assaut mà Chính-phủ Quốc-gia Việt-Nam gọi là Hải-đoàn Xung-Phong (HĐXP) Pháp, cũng là tiền thân của Giang-đoàn Xung-Phong (GĐXP hay RAG= Riverine Assault Group), một đơn vị tác-chiến quan trọng trong sông của Hải-quân VNCH được bộ Tổng-tham-mưu Quân-lực VNCH ban hành bảng cấp-số vào năm 1965.

2- CHỨC NĂNG VÀ TRANG BỊ
    Mặc dầu thành công trong hạn hẹp, nhưng với mớ kinh-nghiệm quan trọng vừa thu-hoạch, cuối năm 1945, Phó Đề-đốc Jaubert mạnh dạn phúc-trình lên Toàn-quyền Đông-Dương kết quả ứng-dụng lý-thuyết vào thực tiễn và các đề nghị khả thi kèm theo họa-đồ kiến-trúc (Blue Print) cho các loại chiến-đĩnh mới để HĐXP - một đơn vị chiến-thuật trong sông của Hải-quân Pháp – có cơ hội được chấp thuận ra đời.

    Nội-dung phúc-trình Jaubert (03) bao gồm 3 phần cơ-bản cho việc thành lập HĐXP có cấp số 95 nhân-viên kể cả nhân-lực của hậu-cứ.
        a)- Nhiệm-vụ tổng-quát của HĐXP trên phương diện hành-quân là tuần tiểu bảo vệ thủy-trình, giải tỏa sông rạch có thủy-mìn; hộ tống, chuyển quân, tiếp tế, tản thương và yểm trợ hải-pháo cho các đồn bót hẻo lánh ven sông; tự tổ chức hành-quân thủy-bộ biệt lập trong tư thế mũi nhọn tấn công hay phối hợp hành-quân với các đơn vị trách nhiệm lãnh-thổ.
        b)- Cấp số chiến-cụ (04) cho mỗi HĐXP Pháp gồm:
                * 1 Quân-vận-đĩnh LCT (Landing craft tank giống như LCU của Mỹ), không có khả-năng yểm trợ hải-pháo.
                * 1 Giang-đĩnh chỉ-huy (Commandement Monitor LCM), thiết trí pháo-tháp (tank turret lấy từ các chiến-xa của Ý-Đại-Lợi sau Đệ-nhị Thế-chiến), gắn đại-bác Oerlikon 20 ly, đại-liên 50, bích-kích-pháo 81 ly và hệ-thống truyền-tin siêu-tần-số để Hải-đoàn-trưởng dùng làm BCH/Hành-quân. (hình 1)
                 * 1 Chiến-đấu-đĩnh (Combat Monitor LCM), thiết trí pháo-tháp gắn đại-bác Bofors 40 ly trước mũi, đại-bác 20 ly, đại-liên 50, đại-liên 30 xung quanh và bích-kích-pháo 81 ly. Đây là loại giang-đĩnh trang bị vũ-khí rất hùng-hậu thể hiện tính xung-kích của HĐXP để đàn áp tinh-thần chiến-đấu và hỏa-lực địch mỗi khi đụng trận . Theo các vị ‘kỳ lão áo trắng’ thâm-niên chiến-trận trên sông nước thì CSBV/Việt-Cộng sợ và né trao đổi hỏa-lực với Chiến-đấu-đĩnh mà họ gọi là ‘cái đầu lân (unicorn head) khắc-tinh ’. Bởi vì chỉ bắn nó vài ba viên, nó đáp ứng lại ngon lành cả trăm viên. Tránh voi chẳng xấu mặt nào, đỡ phải hy-sinh bộ-đội. Thông thường mỗi khi nhập vùng hành-quân, Hải-đoàn-phó hiện-diện trên Chiến-đấu-đĩnh. (hình 2)

         
Hình 1                                                                                         Hình 2

                 * 6 Trung-vân-đĩnh LCM (Landing craft medium) có gắn bửng chống đạn (blindage) cho tất cả vũ-khí cộng-đồng như đại-bác 20 ly, đại-liên 50 và 30. (Hình 3)
                 * 2 Tiểu-vận-đĩnh LCVP (Landing craft vehicle personnel), trang bị đại-bác 20 ly trước mũi, 2 đại-liên 30 trên mui và 2 đại-liên 30 hai bên hông, tất cả đều có gắn bửng chống đạn, mang theo dụng-cụ rà mìn sau lái. (Hình 4)

    
Hình 3                                                                                       Hình 4

                 * 2 Xung-kích-đĩnh STCAN/FOM (Sevices techniques des constructions et armes navales France outré mer = built overseas) (75), trang bị đại-liên 50 trước nũi, 2 đại-liên 30 trên mui và 2 đại-liên 30 hai bên hông đều có bửng chống đạn. Lần đầu tiên đóng tại thủy-xưởng Tân-Gia-Ba, Xung-kích-đĩnh FOM có kiến-trúc rất đặc biệt với đáy tàu hình chữ V lài, dài 11 thước, 1 thủy-động-cơ; toàn bộ nặng đến 13 tấn khiến sàn tàu lúc nào cũng là đà sát mặt nước. Có lẽ nhờ đặc-thù này mà FOM ít khi bị chìm nếu chạm phải thủy-mìn. Do đó FOM còn được trang bị thêm dụng-cụ rà mìn phía sau lái để giải tỏa thủy-lộ, trong chức năng xung-kích mở đường. (hình 5)     

Tóm lại, kể từ đầu năm 1951, HĐXP được Thống-tướng De Lattre chấp thuận bành-trướng, nâng cấp lên thành Binh-đoàn cơ-động trong sông (Group Mobile) với 125 nhân-viên hải-quân thuần-túy, có đủ khả-năng chuyển vận và đổ bộ 1 tiểu-đoàn Bộ-binh. (06)


Hình 5

3- TIẾN TRÌNH THÀNH LẬP.
    Phúc-trình Jaubert đến tay thượng cấp Pháp không đúng thời điểm may mắn, bởi lẽ tình trạng kinh-tế Paris đang hồi suy-sụp nặng. Trong khi kho dự trữ chiến-cụ hải-ngoại lại trống trơn, mà phúc-trình đề nghị là phải có các loại chiến-đĩnh mới để giải quyết cấp bách nhu-cầu cho chiến-trường sông. Việc đóng mới Xung-kích-đĩnh FOM và mua Trung-vận-đĩnh LCM của Mỹ để biến cải thành Giang-đĩnh Chỉ-huy và Chiến-đấu-đĩnh đòi hỏi ngân-sách dành cho Quân-đội Viễn-chinh quá lớn, khiến nền kinh-tế èo-uột hiện tại của Pháp không kham nổi. Còn về nhân-lực, hơn phân nửa lực-lượng tác-chiến của Pháp đang bị chôn chân trên chiến-trường sôi động Bắc-Việt thì Pháp đâu còn đủ binh-sĩ để thuyên chuyển đến các HĐXP tân lập.

    Trong một cố gắng tối đa, Toàn-quyền Đông-Dương, Đô-đốc D’Argenlieu phải tận dụng tài-nguyên hải-ngoại còn lại để thành lập HĐXP1 và Đại-đội Commandos tùng-đĩnh Bergerol tại Nhà-Bè vào tháng 8 năm 1947, và giao cho HQ/Thiếu-tá Léost làm Hải-đoàn-trưởng. Trong những ngày đầu, HĐXP1 hoạt-động từ Nhà-Bè đến Ngã-Bảy trên sông Lòng-Tào thuộc Đặc-khu Rừng-Sát. Vào tháng 6 năm 1948, Trung-tướng Nguyễn-Bình, Trưởng Khu- bộ 7 sai phạm lớn khi ra lệnh cho bộ-đội VMCS tấn công vào bản-doanh Bình-Xuyên tại Đặc-khu Rừng-Sát khiến lãnh-tụ Lê-Văn-Viễn (Bảy Viễn) ngả theo Pháp. Kế đó, Pháp giao cho Bình-Xuyên giữ an ninh thủy-lộ Saigon Vũng-Tàu và HĐXP1 chuyển vùng hoạt-động sang khu-vực Tiền-Giang. Mặt khác, để giảm bớt gánh nặng hành-quân trong sông, Toàn-quyền Đông-Dương đành ép lòng đi đến thỏa-hiệp với hai giáo-phái có vũ-trang đương thời là Cao-Đài (4.500 quân) và Hòa-Hảo (3.000 quân) để cho họ chịu trách nhiệm an ninh lãnh-thổ vùng mà họ đang kiểm soát.

    Trong lúc HĐXP trong Nam ra đời khó-khăn như vậy, thì ở ngoài Bắc, vì nhu-cầu tu sửa cầu đường mà các đội Tuần-giang thuộc Lục-quân lại được thành lập thật sớm vào đầu năm 1947.

    Mãi cho đến tháng 2 năm 1951, De Lattre nắm cả quyền hành-chánh lẫn quân-sự tại Đông-Dương, nên mới quyết định thành lập HĐXP2 tại Nam-Định và giao cho HQ/Đại-úy Garnier rất thâm-niên hải-nghiệp làm Hải-đoàn-trưởng đầu-tiên. Hơn nữa, trước đó nhờ Mỹ viện-trợ một cơ-xưởng nổi (Floating drydock facilities) và 20 chiếc Trung-vận-đĩnh LCM6, giao lần đầu tại quân-cảng Hải-Phòng vào cuối năm 1950 mà Pháp mới có đủ tài-nguyên để biến-cải các Trung-vận-đĩnh này thành chiến-cụ mới, thích nghi cho các HĐXP tân lập.    

    Hải-quân Công-xưởng nổi (Ụ nổi), Mỹ kéo đến Hải-Phòng viện-trợ cho Pháp vào giữa tháng 12 năm 1950. Sau đó chuyển giao cho Hải-quân VNCH với danh số HQ9600. (Hình 6 và Hình 7)

    
Hình 6                                                                                            Hình 7

    Căn cứ vào quá trình hoạt-động hết sức tốt đẹp của HĐXP2, vào đầu tháng 11/1951, De Lattre quyết định bành trướng thêm đơn vị Hải-quân Nam-Định thành Liên-đoàn Hải-quân Xung-Phong 22 với HĐXP2 và HĐXP4 (xin đừng nhầm với Liên-đoàn 3 Tuần-giang thuộc Lục-quân, cũng đồn-trú tại Nam-Định).

    HQ/Thiếu-tá Acloque được chỉ định nắm quyền chỉ-huy Liên-đoàn Hải-quân Xung-Phong 22 gồm cả các Đại-đội Commandos tùng-đĩnh (Groupement des Commandos du North Viet-Nam) như: Tempête, Tigre, Jaubert (tên của người sáng-kiến ra DINASSAUT), Romary, Sieffer và Orange. Tất cả đơn vị Hải-quân trong sông tại Nam-Định đang thao dượt, chuẩn bị tham dự chiến-dịch tái chiếm thị-xã Hòa-Bình.

4- THAM DỰ CÁC CUỘC HÀNH-QUÂN LỚN VÀ CHIẾN-DỊCH QUAN TRỌNG
    Hải-đoàn Xung-Phong (HĐXP) kể từ khi thành lập vào tháng 8 năm 1947 cho đến năm 1965 được Bộ Tổng-tham-mưu QL/VNCH chấp thuận cải danh thành Giang-đoàn Xung-Phong (GĐXP) đã tham dự nhiều cuộc hành-quân Thủy-bộ then chốt trên khắp chiến-trường Việt-Nam. Cùng một quan-điểm chiến-lược với Bộ-trưởng Hải-ngoại của Pháp là Dupont, hầu hết các tướng lãnh trực tiếp chỉ-huy những cuộc hành-quân lưỡng-thế có GĐXP tham dự đều khẳng-định là “ nếu không có các đơn vị trong sông của Hải-quân như GĐXP thì cuộc hành-quân bị thất bại đến 70%  ”

    Lịch-trình sau đây ghi lại những cuộc hành-quân lớn, có GĐXP tham dự, bất kể thành công hay thất bại.  
     Ngày 14/02/1948.
         HĐXP1 tham dự hành-quân Véga vào vùng Đồng-Tháp-Mười với 7 Tiểu-đoàn Bộ-binh và 2 Đại-đội chiến-xa nhẹ Crabs (kiểu M.29 Weasel) do các Trung-vận-đĩnh LCM đổ lên bờ quận Hồng-Ngự, tỉnh Kiến-Phong. Hành-quân thất bại vì địch né chạm súng và cơ sở hậu-cần địch còn sơ sài.    
     Ngày 24/03/1951.
         HĐXP2 tham dự hành-quân trên sông Đá-Bạc để giải tỏa Mạo-Khê. Đơn vị này được Thống-tướng De Lattre tuyên-dương công-trạng trước quân-kỳ Lực-lượng Viễn-Chinh là thi-hành công tác đổ quân và yểm trợ hải-pháo thật xuất sắc để bảo vệ Mạo-Khê-Phố.
     Ngày 28/05/1951.
         HĐXP2 tham dự hành-quân sông Đáy (Ninh-Bình), triệt được đường tiếp-tế của địch và hoàn toàn làm chủ thủy-trình chuyển vận lúa gạo.
     Ngày 24/08/1951.
         HĐXP1 tham dự chiến-dịch Tổng càn quét Đồng-Tháp-Mười. Thủ-trưởng chiến-khu 8 là tướng VMCS Dương-Quốc-Chính phải rút chạy về vùng Mỏ-Vẹt. Tư-lệnh chiến-dịch, tướng Bondis tuyên bố trước Quân-đội Pháp là “nếu không có HĐXP vào tận vùng Tân-Thành và Cái-Cái thì Lục-quân Pháp không thể thành công được như vậy ”
     Ngày 03/10/1951.
         HĐXP2 tham dự hành-quân bình-định sông Đuống và Trà-Lý (Thái-Bình). Cuộc hành-quân thất bại vì không hổ trợ được công tác bình-định nông thôn của Thủ-hiến Bắc-Việt là Nguyễn-Hữu-Trí.
     Ngày 09/11/1951.
         Liên-đoàn Hải-quân Xung-Phong 22 tham dự hành-quân tái chiếm Hòa-Bình. Theo phúc-trình của tướng Salan, cuộc hành-quân thất bại 100%, riêng Liên-đoàn Hải-quân Xung-Phong 22 được tuyên-dương công trạng là giữ vững an ninh sông Đà cho đến phút chót để cuộc triệt thoái chiến-thuật 12 ngàn quân về Vĩnh-Yên được an toàn.
     Ngày 04/07/1952.
         HĐXP1 tham dự hành-quân Zéphir (Gió-Mát) trong tam-giác Giồng Riềng, Vị-Thanh và Thái-Lai thuộc khu vực Hậu-Giang. Một số nhân-viên của đơn vị sông được thưởng huy-chương, vì tịch thu được một số vũ khí quan trọng của Tiểu-đoàn 307 VMCS.
      Ngày 05/11/1952.
          Liên-đoàn Hải-quân Xung-Phong 22 tham dự hành-quân Loraine để tiêu diệt hậu-cần của VMCS trong vùng Phú-Thọ. Đây là cuộc hành-quân khá lớn do tướng De Linarès, Tư-lệnh quân Pháp tại Bắc-Việt, trực tiếp điều động 13 Tiểu-đoàn Bộ-binh, 3 Tiểu-đoàn Dù, 4 Tiểu-đoàn Pháo-binh và 2 Tiểu-đoàn Kỵ-binh cơ-giới. Theo thống-kê của Quân-đội Viễn-Chinh Pháp thì kết quả hành-quân được đánh giá là thành công ở mức trung bình.
     Tháng 01/1963.
         Hải-đoàn 22 Xung-Phong tân lập do HQ/Đại-úy Huỳnh-Duy-Thiệp (Khóa 7 SQHQ/NT) chỉ-huy, tham dự “ Chiến-dịch Sóng-Tình-Thương” tại Năm-Căn. Hoạt động thường trực trên sông Bồ-Đề, Cái-Lớn, Tam-Giang….Hải-đoàn 22 Xung-Phong đánh tan cuộc phục-kích của Việt-Cộng trên kinh Cái-Nháp, tịch thu một số vũ-khí. Lần đầu tiên Hải-đoàn 22 Xung-Phong đoạt được đại-bác 75 ly. Khi bàn giao các ấp Chiến-lược lại cho chính quyền địa phương, HQ/Đại-tá Hồ-Tấn-Quyền, Tư-lệnh chiến-dịch, ban hiểu-thị là chiến-dịch thành công tốt đẹp.
     Ngày 06/07/1964.
         Hải-đoàn 22 Xung-Phong tham-dự hành-quân Đồng-Tháp/64 do Đại-tá Cao-Văn-Viên làm Tư-lệnh. Ngay khi được Hải-đoàn 22 XP đổ lên phía Bắc quân Hồng-Ngự, Chiến-đoàn Dù chạm địch dữ-dội và Đại-tá Viên bị thương tại mặt trận. Sau một tuần dằng co, Quân-lực VNCH đã đuổi được CSBV/Việt-Cộng chạy sang biên giới Miên.
     Ngày 04/10/1965.
         Giang-đoàn 23 XP và Trợ-chiến-hạm HQ226 cùng Tiểu-đoàn 41 Biệt-Động-Quân trên đường hành-quân giải vây đồn bót tỉnh Kiến-Hòa thì bị Việt-Cộng phục-kích dài 3 cây số dọc theo cù lao Ốc, sông Hàm-Luông. Cuộc hành-quân thất bại vì GĐ23 XP và Tiểu-đoàn 41 BĐQ bị tổn thất nặng, không đến được địa điểm tiếp viện.
     Năm 1966.
         Giang-đoàn 22 XP đảm trách an ninh thủy-trình sông Lòng-Tào, vì áp lực CSBV/Việt-Cộng trên thủy-trình huyết mạch nặng nề nhất trong lịch-sử Đặc-khu Rừng-Sát. Trọn năm, GĐ22 XP là nổ lực chính đem lại ổn định 100% cho lãnh-thổ độc nhất mà Hải-quân VNCH trách nhiệm. (Sắc-lệnh số 343/QL do Thủ-tướng Trần-Văn-Hương ký ngày 27 tháng 11 năm 1964 ấn định trách nhiệm lãnh-thổ của Hải-quân VNCH là Đặc-khu Rừng-Sát kể cả 2 con sông Lòng-Tào và Soi-Rạp).
     Ngày 30/01/1968.
         Liên Giang-đoàn 25 – 29 XP phối hợp ngăn chận thật hiệu quả và đẩy lui nhiều đợt quân CSBV/Việt-Cộng vượt qua sông Cái-Răng và sông Hậu-Giang để vào tổng-công-kích Thị-xã Cần-Thơ trong những ngày Tết Mậu-Thân.
     Ngày 01/05/1968.
         Liên Giang-đoàn 25 – 26 XP (GĐ 26 XP từ Long-Xuyên lên tăng phái) hành-quân độc lập khai thông kinh Mang-Thích và giải tỏa quận Bình-Minh. Trong kinh rạch hẹp, hỏa lực của Liên Giang-đoàn đánh trả rất ác liệt với DKZ, B40 và B41 của CSBV/Việt-Cộng. Đôi bên cùng tổn thất nặng. HQ/Thiếu-tá Nguyễn-Bá-Trang, Chỉ-huy-trưởng hành-quân bị thương, nhưng thành công trong công tác khai thông thủy-trình này.
    Tháng 3 – 4/1973.
         GĐ 26 XP phối hợp với Trung-đoàn 15 thuộc Sư-đoàn 9 BB hành-quân giải tỏa quân Hồng-Ngự và xã Thường-Phước, Cuộc hành-quân thắng lợi lớn vì bức rút được Trung-đoàn 174 thuộc Công-trường 5 Việt-Cộng chạy qua biên-giới Miên.
    
     Phần này sẽ được cập-nhật-hóa mỗi khi nhận tư-liệu của các chiến-hữu Áo-trắng.
________________________________

Chú Thích:
(01)- Tucker Spencer C. Encyclopedia of Vietnam war. London 1999, trang 103.
            - Năm 1948, Dinassaut 1 (tiền-thân của GĐ 21 XP) ra đời ở Cochinchine (Nam-Việt).
            - Năm 1951, Dinassaut 2 (tiền-thân của GĐ 22 XP) ra đời ở Tonkin (Bắc-Việt).
(02)- Carl Von Clausewitz (1780-1831) gia nhập Thiếu-sinh-quân Phổ (Prussian) năm 1792, thăng cấp tướng năm 1818. Với kinh nghiệm binh-nghiệp lâu dài được trình bày qua học-thuyết quân-sự “Chiến-tranh là một công-cụ của chính-sách” mà Clausewitz khẳng định trong quyển binh-pháp độc nhất của mình ON WAR (VOM KRIEGE) xuất bản năm 1833, sau khi ông chết được 2 năm. Các nước Âu-Châu bắt đầu nghiên cứu học-thuyết Clausewitz từ năm 1873, đến năm 1990 thì học-thuyết này được quảng-bá khắp các nước Mỹ, Nga và Nhật.
(03)- Salan Raoul. Tài liệu đã dẫn trang 185.
Dinassaut được các nhà quân-sử Pháp thẩm định và liệt vào « Sức mạnh trong sông » của Hải-quân Pháp vào thập niên 1950. Vì vậy mà Phúc-trình Jaubert về tổ-chức và chiến-thuật trong sông của Dinassaut trở thành chiến-thuật thành-văn của Quân-lực Pháp, đến năm 2004 tài liệu quan trọng này vẫn còn lưu trữ trong Trung-tâm Văn-khố Hải-ngoại tạiAix-en-Provence (CAOM=Centre des Archives Outre-Mer).
(04)- Tháng 2/1951, Bộ Tư-lệnh Viễn-Chinh tại Đông-Dương tái duyệt Phúc-trình Jaubert. Về chiến-cụ, De Lattre cho thay thế Quân-vận-hạm LCT bằng Trợ-chiến-hạm LSSL (Landing Ship Support Large) hay Giang-pháo-hạm LSIL (Landing Ship Infantry Large) có thủy-thủ-đoàn 40 người để tăng cường khả-năng yểm trợ hải-pháo chiến-thuật. Bởi vì cả hai loại chiến-hạm trên đây đều trang bị đại-bác 76.2 ly, 40 ly (đơn hoặc đôi), bích-kích-pháo 120 ly và 81 ly. Hơn nữa, chiến-hạm còn có hệ-thống truyền-tin viễn-liên và phòng mổ cấp-cứu tại chiến-trường rất thích ứng cho việc đặt BCH/ Hành-quân Liên-quân. (Ghi chú này trích dịch từ bản-phụ-đính kế-hoạch De Lattre’s short term plan of action, trong tập hồi-ký Salan).
(05)- Để danh xưng được đồng nhất, tên các chiến-đĩnh trong tập này trích từ « Tài liệu căn-bản về định danh chiến-đĩnh » do BTL/HQ/P3/P5/TC phổ biến vào tháng 6 năm 1971. (Xin xem thêm chương IX-ACTOV).
(06)- Song-hành với việc nâng cấp HĐXP, De Lattre bành-trướng Binh-đoàn cơ-động trên bộ lên tầm cở Lữ-đoàn (Brigade sized) gồm 3 Tiểu-đoàn Bộ-binh, 1 Tiểu-đoàn Pháo-binh chiến-thuật (Tactical Artillery hay Direct support), 2 Tiểu-đoàn Thiết-kỵ với hơn 100 xe cơ-giới và chiến xa nhẹ. Tầm nhìn xa về quân-sự của viên Tổng-chỉ-huy Quân-đội Pháp tại Đông-Dương khiến Trung-tướng Davidson, Đại-tá TQLC Croizat và Đại-tá Bộ-binh Summer Jr. đều ngưỡng-mộ và cho rằng ngoài ba trận thắng lớn để ổn định tinh-thần quân-đội và bình-định nông thôn, De Lattre còn có nhãn-quan chiến-lược về nâng cấp lực-lượng tác chiến để làm chủ chiến-trường du-kích không biên-giới. Nhưng tiếc một điều là ông ta qua đời quá sớm, không kịp viết hồi-ký về vai trò then chốt của mình tại Việt-Nam, giống như Salan hay Navarre đã làm. Dĩ nhiên quân-sử Pháp bị khiếm-khuyết phần nhân-chứng đầy hấp dẫn về chiến-trận Đông-Dương, nhất là những nhà nghiên cứu chiến-lược, chiến-thuật thì không thể nào hiểu hết được « người và việc » của một viên Toàn-quyền kiêm Tổng-Tư-lệnh Quân-đội Viễn-Chinh mà không có chút tư liệu gì để lại cho hậu-thế.

Nguyễn Văn Ơn



10-09-2006

TỬ SĨ HOÀNG SA
Anh hùng Ngụy Văn Thà

QUỐC KỲ và QUỐC CA VN

Bài chọn đăng
Đại Sứ Mỹ J. C. Stevens
Chuyến hải hành sau cùng HQ
TT Thiệu với Hải chiến HS
Báo Tàu: Hải chiến Tây Sa74
Thủy xa vận mới EFV của Mỹ
Chiến Hạm HQ/VNCH di tản 75
Vì sao mất Thác Bản Giốc?
Đường Mòn Hồ Chí Minh
Tàu chiến tàng hình của Mỹ
Tiên Lãng: Đối kháng vũ lực
Your IP : 162.158.63.165    Hải QuânHải Quân VNCHTài liệu Hải Quân VNCHGiang Đoàn Xung Phong  

Copyright © 2003 - 2017 hqvnch.net
Website: 8873402 hits Page generated in: 0.09375 secs Webmaster