HomeTưởng NiệmThời SựHải QuânSử LiệuTìm hiểuSưu TầmVideoGiải TríLinks
Viewed: 8709321 
Hải QuânHoàng Sa & Trường SaTài liệu Hoàng và Trường SaTháng1: Nhớ Trận Hoàng Sa
   
Hoàng và Trường Sa thuộc VN
Tìm hiểu trận chiến Hoàng Sa
Lược thuật trận Hoàng Sa
Hoang Sa Naval Battle
The Paracel Islands Sea Battle
Bản đồ Hoàng Sa cập nhật
Dử liệu mới HQ10-Hoàng Sa
Battle for the Paracel Is
Battle of Hoang Sa 1974
TH/HQ phản đối Trung Cộng
Trung Cộng đổ bộ Hoàng Sa
Tháng1: Nhớ Trận Hoàng Sa
Tử sĩ Hoàng-Sa Ngụy Văn Thà
Tử sĩ Hoàng-Sa Đinh H. Mai
Tử sĩ Hoàng-Sa Lê Văn Tây
Tử sĩ Hoàng-Sa Ng Thành Trí
Văn Tế Tử Sĩ Hoàng Sa
S Diego: Tưởng niệm HoàngSa
Hình: Hải chiến Hoàng Sa 74
Lực lượng TC chiếm Hoàng Sa
Thư TT Thiệu gởi TT Nixon
HQ10 đi vào lịch sử
Trung Cộng lập Huyện Tam Sa
Quan điểm TC về Hoàng Sa
Times Magazine: Paracels 74
Tuyên Cáo VNCH về HS 1974
Biến cố Hòang Sa 1956
Tuyên cáo TC về trận HS 74
Hoàng Sa 74-Điện thư TĐS Mỹ
Tài liệu liên hệ trận HS 74
Tuyên cáo V/v Tàu xâm lăng
Lễ Truy Điệu Tử Sĩ Hoàng Sa
Tường Trình Ủy Khúc về HQ10
Hoàng Sa Qua Các Nhân Chứng
Bản lên tiếng về chủ quyền
Đại cương quần đảo Hoàng Sa
Chủ quyền trên các đảo
Dữ kiện về Hoàng &Trường Sa
Tranh chấp ĐảoTrường Sa
CSVN sai lầm chiến lược
Trường Sa Chiến 1988
Đài Loan chủ quyền Taiping
Thư ngỏ gởi LHQ về Hoàng Sa
Biến cố Trường Sa tháng2/74
Chủ quyền VN trên biển Đông
Phân tích khả năng TC&VNCH
Biên giới trên vịnh Bắc Bộ
Sắc Chỉ Minh Mạng bảo vệ HS
Tài liệu mới: Bản đồ H.Sa
Tờ châu bản thời Bảo Đại
Hai bản đồ quý hiếm
Bản đồ của Matteo Ricci
TQLC/VNCH tại Hoàng Sa 1959
VNCH chiếm đảo Nam Yết 1973
Tấm Dư đồ bị lãng quên
Một tấm Dư đồ bị lãng quên
Bản đồ Trường Sa cập nhật
Kế hoạch cưỡng chiếm HS1974
Cột mốc chủ quyền TS 1956
TT Thiệu với Hải chiến HS
Châu bản thời M.Mạng&T.Trị

Phong Trào Dân Chủ VN
Báo Tự Do Ngôn luận ra đời, một bước đột phát trong nỗ lực phá vỡ chính sách độc tai bưng bít thông tin của CSVN.
Báo Tự Do Dân Chủ  ra đời, ngày 2 tháng 9 năm 2006, tại thủ đô Hà Nội.
Tòa án man rợ Cộng sản VN bịt miệng Linh mục Nguyễn Văn Lý.

Hoàng Sa&Trường Sa
Lực lượng Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa 1974
Tài liệu giá trị lich sử do Hải sư Thềm Sơn Hà sưu tìm.
Đại cương về Quần đảo Hoàng Sa 
Hình ảnh - Địa lý - Khí hậu - Vị trí chiến lược. 
Bài sưu tầm của Hải sư Thềm Sơn Hà
HQ10 đi vào lịch sử 
Trận Hải chiến 19/01/1974 chống Trung Cộng xâm lăng.
HQ5 và Hải chiến Hòang Sa 1974 
Hồi ký của Trương Văn Liêm
Biến cố Trường Sa tháng 2-1974
VNCH mở cuộc hành quân Trần Hưng Đạo 48 tại Trường Sa cuối tháng 1/1974 để cũng cố chủ quyền VN ngăn ngừa tham vọng bành trướng của Trung cộng lấn chiếm quần đảo Trường Sa

 

Tài liệu Hải Quân VNCH
Lực Lượng Đặc nhiệm 99
Một tài liệu sống thực để cho các thế hệ mai sau hiểu thêm về nỗi đau đớn của một cuộc tương tàn mà người Việt Nam dù Nam hay Bắc, đã không làm chủ được... 
Hình thành HQ/VNCH
Bài sưu tầm của Bảo Bình Nguyễn Văn Ơn
Sea Float Năm Căn
Chiến dịch Trần Hưng Đạo 4 bình định Năn Căn Cà Mau do Hải sư Trương Thanh Việt sưu tầm.


Tháng 1, Nhớ Trận Hải Chiến Hoàng Sa 

Mường Giang

    Không kể thời Bắc thuộc,trong dòng sử VN ta thấy có một vài vua chúa vì muốn giữ chiếc ngai vàng cho riêng mình, nên năm 1405 Hồ Quý Ly dâng cho giặc Minh đất Cổ Lâu (Lạng Sơn), Mạc Đăng Dung nhượng vùng La Phù vào năm 1540 và các chúa Trịnh cho giặc Bắc nhiều hang động của nước Nam, dọc theo biên giới Hoa Việt.
    Thời cận sử, từ năm 1930 cho tới ngày nay, cộng đảng đệ tam quốc tế và Hồ Chí Minh dám công khai nhượng bán hết đất biên giới, tới biển đảo cho giặc Tàu, mà nay người nào cũng đều biết. Vậy mà lúc nào, cũng nói Trần Thiểm Bình, Hồ Quý Ly, Lê Chiêu Thống.. .cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về dày mã tổ. Chỉ riêng thành tích  bán nước cho giặc Tàu, thì Hồ Chí Minh và đảng VC (đảng Cộng Sản VN), còn tệ mạt gấp ngàn vạn lần, những nhân vật bị đời bêu rếu. Tóm lại, ai nói hay nghĩ thế nào cũng được nhưng chắc chắc với một chánh quyền tham tàn, bạo ngược, hại dân và nhất là công khai bán nước và quốc thể cho ngoại bang, nên dù Việt Cộng có được Trung Cộng hay Hoa Kỳ chống lưng, bảo vệ...thì sự sụp đổ của chế độ thối nát trên, nay đang sơn son thiếp vàng để bịp người, cũng chỉ là một lâu đài trên cát, chờ giờ sụp đổ như bao thiên đàng xã nghĩa đã tan tành, để bọn chóp bu sâu bọ đội lớp người đang uống máu dân đen khổ đau nhục hận, bị đồng bào trong và ngoài nước, lôi ra trước quốc dân và Tòa Án lịch sử  đền tội.
    Mới đây báo chí Trung Cộng  đăng tin giặc Tàu đã chiếm vùng núi Lao Sơn tại biên giới Hoa-Việt, trong cuộc chiến giữa hai nước từ 1979-1985. Chuyện này cũng chẳng có gì lạ, vì mấy năm qua, dư luận báo chí trong và ngoài nước đã không ngớt tố cáo Việt Cộng vì quyền lợi đảng và cá nhân của chóp bu, nên đã đem rất nhiều đất biên giới, đảo, biển và vùng đánh cá để dâng hiến cho chủ. Tóm lại đó chỉ là lấy vải the che mắt thánh, hòng chạy tội với quốc dân đồng bào mà thôi.
    Tháng 7-1954, ngay khi chữ ký trên văn bản ngưng bắn tại Genève, chưa ráo mực, thì Hồ-Chí-Minh đã nghĩ ngay tới chuyện chiếm miền Nam, để tron gói vơ vét và toàn quyền trên ngai vàng máu lệ. Do ý đồ trên, Hồ đã gài lại một số lớn cán binh bộ đội nằm vùng khắp lãnh thổ VNCH khi có lệnh tập kết. Để chuyển quân cũng như tiếp tế, Hồ mở con đường chiến lược Trường Sơn trên bộ, xuyên qua lãnh thổ Lào và Kampuchia. Về mặt biển, Hồ thành lập đường 559B giao cho Đồng văn Cống chỉ huy, và dĩ nhiên, muốn an toàn, đầu tiên là phải nhổ tuyệt hai tiền đồn của QLVNCH trấn đóng trên quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, đất đai thuộc lãnh thổ từ lâu đời của dân tộc Đại Việt, đã được tổ tiên bảo toàn từ thời Hậu Lê, Nhà Nguyễn.. nằm trong Đông Hải.
    Theo bản tin của UPI-AFB ngày 23-9-1958, được báo chí của Trung Cộng lẫn Việt Cộng đăng tải. Những tài liệu này, hiện vẫn được lưu trữ  tại các thư viện quốc tế như Luân Đôn, Paris, Hoa Thịnh Đón, Bắc Kinh... kể cả Hà Nội. Nhờ đó, ta mới biết được, vào ngày 14-9-1958, Phạm Văn Đồng lúc đó là thủ tướng, theo lệnh của chủ tịch nước và đảng VC là Hồ Chí Minh, đả cam kết với Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Cộng, bằng văn kiện xác quyết như sau 'Chính phủ VNDCCH, tôn trọng quyết định, lãnh hải 12 hải lý cũng như hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, là Tây Sa-Nam Sa, của Trung Cộng'. Ngày 22-9-1958, Đại sứ VC tại Bắc Kinh là Nguyễn Khang, dâng văn kiện xác nhận điều trên, do Phạm Văn Đồng ký, lên Thiên Triều.  Ngay cả khi đã cướp chiếm được hoàn toàn miền Nam VN, vào tháng 5-1976, trên tờ Sài Gòn Giải Phóng của Việt Cộng nằm vùng Ngô Công Đức, Lý Quý Chung…vẫn còn đăng lời xác nhận của đảng VC, là Hoàng Sa-Trường Sa là của Trung Cộng. Khôi hài hơn, Việt Cộng nói, vì ta và Tàu sông liền sông, núi dính núi, nên Hoàng Sa-Trường Sa, của ai cũng thế thôi, nên Việt Cộng muốn lấy lại đảo, lúc nào Trung Cộng vẫn sẵn sàng giao trả'. Luận điệu trên, rõ ràng Việt Cộng đã xác nhận VN là thuộc địa của Tàu Cộng. Dù ngày 14-3-1988, Việt Cộng và Trung Cộng đã giao tranh đẳm máu tại Trường Sa, ngay sau đó, trên tờ Nhân Dân, số ra ngày 26-4-1988, Việt Cộng vẫn xác nhận sự kiện Hồ Chí Minh bán hai đảo cho Tàu năm 1958 là đúng. Bởi có vậy, Trung Cộng mới viện trợ súng đạn, gạo tiền và cả triệu quân, để Việt Cộng đánh chiếm VNCH từ 1955-1975.

1-QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CỦA VN.

    Về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, theo chính sử cũng như những tài liệu của ngoại quốc như  Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn, Hoàng Việt địa dư chí thời vua Minh Mạng, Quảng Ngãi tỉnh trí của các Tuần Vũ Nguyễn Bá Trác và Nguyễn Đình Chi, Quảng Ngãi nhất thống chí của Lê Ngại đều đề cập tới và xác nhận đó là lãnh thổ lâu đời của Đại Việt. Với các tác phẩm ngoại quốc, có nhiều thiên ký sự của các giáo sĩ Thiên Chúa trên tàu Amphitrite, viết năm 1701, của Đô Đốc Pháp tên là D'Estaing viết năm 1768 rằng : ' Sự giao thông giữa đất liền và các đảo Paracel (Hoàng Sa) rất nguy hiểm, khó khăn nhưng người Đại Việt chỉ dùng các thuyền nhỏ, lại có thể đi lại dễ dàng '. Nhưng quan trọng nhất, là tác phẩm viết về Hoàng Sa của Đổ Bá tự Công Đạo, viết năm Chính Hòa thứ 7 (1686), trong đó có bản đồ Bãi Cát Vàng: ' Đảo phỏng chừng 600 dặm chiều dài và 20 dặm bề ngang. Vị trí nằm giữa cửa Đại Chiêm và Quyết Mông. Hằng năm vào cuối mùa đông, các chúa Nguyễn Đàng Trong, cho Hải Đội Hoàng Sa gồm 18 chiến thuyền đến nơi tuần trú '. Năm 1776, trong tác phẩm ' Phủ Biên tạp lục', Lê Quý Đôn đã viết một cách rõ ràng:' Trước đây, các Chúa Nguyễn đã đặt Đội Hoàng Sa 70 suất, tuyển lính tại Xã An Vĩnh, cắt phiên mỗi năm vào tháng 2 ra đi, mang theo lương thực 6 tháng. Dùng loại thuyền câu nhỏ, gồm 5 chiếc, mất 3 ngày 3 đêm, từ đất liền tới đảo'.
    Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của VN ngay khi người Việt từ đàng ngoài tới định cư tại Phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi vào khoảng thế kỷ thứ XV sau tây lịch. Hai quần đảo trên nằm ngoài khơi Đông Hải : Hoàng Sa ở phía bắc và Trường Sa nằm về cực nam gần Côn Đảo.
* QUẦN ĐẢO HOÀNG SA: Nằm giữa hai kinh tuyến đông 111-112 độ và vĩ tuyến bắc 15 độ 45 - 17 độ 05. Đây là một chuổi đảo gồm 120 hòn lớn nhỏ nhưng qui tụ thành bốn nhóm chính. Muốn tới đảo, nếu khởi hành từ Đà Nẳng, bằng tàu của Hải quân phải mất 10 giờ (chừng 170 hải lý), theo hướng 083. Bốn nhóm đảo chính là :
    - NHÓM NGUYỆT THIỀM (CROISSANT): gồm các đảo Cam Tuyền hay Hửu Nhật (Robert), hình tròn, diện tích 0,32km2, là đảo san hô nên có nhiều phốt phát. Toàn đảo chỉ có chim hải âu trú ngụ, tuyệt nhiên không có bóng người. Đảo Quang Hòa Đông (Duncan), diện tích 0,48km2, phía đông đảo là rừng cây phốt phát và nhàn nhàn, phía tây toàn san hô là mơi trú ngụ của chim hải âu. Đảo Quang Hòa Tây (Palon Island) , hình tròn, diện tích 0,41km2, trên đảo toàn cây nhàn nhàn và phốt phát , đảo toàn san hô chỉ có chim ở. Đảo Dung Mộng (Drummond) hình bầu dục, diện tích 0,41Km2, toàn đảo chỉ có nhàn nhàn và phốt phát. Giữa đảo có một vùng đất rộng, thời Đệ 1 Cộng Hòa trước tháng 11-1963, Tiểu Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến trấn đóng tại đây để bảo vệ lãnh thổ. Hiện trên đảo vẫn cò hai ngôi mộ lính VNCH và 3 ngôi mộ cổ khác với mộ bia viết bằng chử Hán.
    Trong số này quan trong nhất vẫn là đảo Hoàng Sa (Pattle) có hình chữ nhật, chu vi 2100m, diện tích 0,30km2. Đảo nay đã được khai phá từ lâu đời, nên có nhiều công trình kiến trúc như Đồn quân trú phòng, Sở khí tượng, Hải đăng và cầu tàu để các chiếm hạm Hải quân/VNCH cập bến. Trên đảo có một ngôi miếu cổ thờ Bà Chúa Đảo và do một Trung đội Địa Phương Quân thuộc Tiểu Khu Quảng Nam trấn đóng.
    Đảo Vỉnh Lạc hay Quang Ảnh  (Money) nằm biệt lập không thuộc nhóm đảo Nguyệt Thiềm, hình bầu dục, diện tích 0,50 km2. Trên đảo toàn nhàn nhàn, phốt phát và một loại cây cao trên 5m, có trái như mít. Toàn đảo không có người ở.
    Đảo Linh Côn (Lincoln) cũng năm biệt lập và đã bị Đài Loan cưởng chiếm vào tháng 12-1946 khi Trung Hoa Dân Quốc, được lệnh LHQ  tới đảo giải giới quân Nhật đang trú đóng trên đảo.
    - NHÓM TUYÊN ĐỨC (AMPHITRITE): cũng bị Đài Loan chiếm năm 1946, nằm về phía bắc đảo Hoàng Sa, gồm 16 đảo nhỏ , trong số này quan trong nhất có đảo Phú Lâm  (Woody Island) , dài 3700m, rộng 2800m. Trên đảo có nhiều cây ăn trái như dừa, được Nhật Bổn khai thác phốt phát từ thời Pháp thuộc. Năm 1950, Trung Cộng đánh đuổi Tưởng Giới Thạch  chạy ra đảo Đài Loan, chiếm lục địa và luôn các hải đảo của VN, xây phi trường, làm đường xá, lập căn cứ quân sự. Đây là nơi giặc Tàu phát xuất, tấn công chiếm các đảo của VN sau này.

* QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA: gồm chín đảo lớn nhỏ, nằm giữa hải phận của cac nước VN, Phi Luật Tân, Srawak. Trong số này đảo lớn nhất là Trường Sa (Sparley), dài 700m, ngang 200m, nằm ở kinh tuyến 114 độ 25 và vĩ tuyến 19 độ 10 bắc. Đảo cấu tạo bởi san hô, có nhiều hải âu trú ngụ, đẻ trứng rất to. Trên đó có nhiều loại cây ăn trái vùng nhiệt đới như dừa, bàng, mù u, nhàn nhàn, rau sam

* ĐỘI HOÀNG SA *
    Theo sử liệu cũng như nhân chứng, thì buổi trước, Đội Hoàng Sa tập trung tại Vươn Đồn, để luyện tập cũng như sửa chữa thuyền bè và nhận lệnh thượng cấp. Trước khi xuất quân, Đội đến Miếu Hoàng Sa tế lễ. Đây là một ngôi nhà gồm 3 gian, làm bằng gỗ tốt, lợp tranh dầy, mặt Miếu quay ra cửa Sa Kỳ, trước có 2 cây gạo cổ thụ. Trong Miếu thờ Một Bộ Xương Cá Ông rất lớn. Theo người địa phương, hơn 300 năm về trước, Ông lụy tại Hoàng Sa, nhưng đã được Hải Đội dìu về đất liền. Sau ba năm chôn cất, những người lính, thỉnh cốt vào thờ trong Miếu . Từ đó về sau, hằng năm vào tháng 6, khi những người lính, mãn phiên từ Hoàng Sa trở về, dân làng tổ chức cúng lễ tại Miếu, gọi là ' Đánh Trống Tựu Xôi '.
    Từ thị xã Quảng Ngãi, qua cầu Trà Khúc, bỏ quốc lộ 1, rẻ vào quốc lộ 24B, ngang qua làng Sơn Mỹ dưới chân núi Thiên Ấn, chừng 5 km, thì rẽ vào một con đường đất đỏ, chạy giữa sông Kinh và rừng dương sát biển. Đó là xã Tịnh Kỳ, thuộc Huyện Sơn Tịnh, nơi khai sinh Hải Đội Hoàng Sa, khoảng mấy trăm về trước, thời các Chúa Nguyễn, Nam Hà, thuộc Đại Việt. Theo Quảng Ngãi địa dư chí, vùng đất này, trước  năm 1898 thuộc trấn Bình Sơn. Năm Thành Thái thứ 10, tách ra thành 2 Huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh. Sau tháng 8-1945, khu Tịnh Kỳ được hoàn thành bởi ba xã An Kỳ, An Vịnh và Kỳ Xuyên. Xưa vùng này là một cù lao, nằm cách đất liền, phải dùng ghe vào các bến Mỹ Khê, Chợ Mới, Sa Kỳ hay xa hơn là Thị Xã Quảng Ngải và các Thị Trấn Ba Gia, Đồng Ké, Sông Vê, Ba Tơ. Từ năm 1993, qua việc xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất nên hải cảng Sa Kỳ đã được mở rộng, đồng thời với con đường chạy từ cầu Khê Kỳ, qua Cửa Lở tới Kỳ Xuyên. Có lẽ do địa thế sông nước bao quanh, nên từ mấy trăm năm về trước, các Vị Chúa Nguyễn đã chọn An Vĩnh làm căn cứ, đặt Hải Đội Hoàng Sa, với nhiệm vụ bảo vệ hải đảo, cũng như khai thác các tài nguyên ngoài Đông Hải. Đình làng An Vĩnh trước đây rất đồ xộ, là nơi Xuân thu nhị kỳ cúng tế những người lính Hoàng Sa, nay đã đổ nát, chỉ còn lại chiếc Cổng Tam Quan. Điều này đủ để minh chứng với thế giới, việc Quần Đảo Hoàng Sa-Trường Sa là lãnh thổ lâu đời của Đại Việt. Người Tàu chỉ ỷ vào sức mạnh và tờ văn khế bán nước của Phạm Văn Đồng năm 1958, để cướp chiếm nước ta, như sau này chúng đã làm tại biên giới Việt Trung và Lãnh Hải trong Vịnh Bắc Việt.
    Ở đây, hiện còn nhà thờ Cai Đôi Phạm Quang Ánh, là người được Vua Gia Long cử ra Hoàng-Sa năm 1815, đo đạc, khảo sát lộ trình và tổ chức Hải Đội. Ông được nhà Nguyễn phong chức Thượng Đẳng Thần khi mất. Tóm lại, từ thời các Chúa Nguyễn (1558-1783), nhà Tây Sơn (1788-1802), Nhà Nguyễn (1802-1945), đã có Hải Đội Hoàng Sa. Đặc biệt, năm 1836, Minh Mạng thứ 17, quần đảo Paracel hay bãi cát vàng, được Công Bộ, đặt tên là 'Bản Quốc Hải Cương Hoàng Sa Xứ, Tối thị Hiểm Yếu'.
    Từ năm 1954, Hoàng-Sa là một đơn vị hành chánh  thuộc tỉnh Quảng Nam-VNCH, được  Tiểu Đoàn 1/TQLC bảo vệ. Từ năm 1959 tới 1974, Đảo do các Đơn Vị ĐPQ/Quảng-Nam trú đóng. Giống như Quần Đảo Trường-Sa ở phía Nam, cũng là một đơn vị hành chánh, của tỉnh Phước-Tuy và do ĐPQ của tỉnh này bảo vệ, cho tới ngày 30-4-1975.

* TRUNG CỘNG CƯỚP CHIẾM HOÀNG SA * 
    Thật sự người Tàu chỉ chú ý tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN từ đầu thế kỷ XX vì dầu hỏa, khí đốt và vị trí chiến lược của hai đảo trên. Sự tranh dành cướp chiếm bắt đầu từ thời VN bị thực dân Pháp đô hộ, vì mất chủ quyền nên không vòm binh lực để bảo vệ lãnh thổ riêng của mình.
    - 1907 Tổng đốc Quảng Châu đòi chủ quyền trên đảo Hoàng-Sa.
    - 1909 Hải quân Nhà Thanh tới Hoàng-Sa hai lần, cắm cờ trên đảo và bắn 21 phát đạn đại bác để thị oai.
    - Ngày 30-4-1921 chính quyền Quảng-Đông, ký văn thư số 831 tự động sáp nhập quần đảo Hoàng-Sa của VN vào đảo Hải-Nam nhưng đã bị Triều đình Huế phản đối dữ dội vào năm 1923.
    - Năm 1933 , Pháp vì bị báo chí trong nước phản đối dữ dội, nên đã đem hải quân ra đánh đuổi quân Tàu, chiếm lại quần đảo Hoàng-Sa, lập đồn binh, cầu tàu, đài khí tượng trên hai đảo chính Hoàng-Sa, Trường-Sa.
    - Tháng 12/1946 Đài-Loan lợi dụng việc giải giới Nhật, đã chiếm đảo Phú-Lâm trong nhóm Tuyên-Đức trong quần đao Hoàng-Sa. Đảo này lại lọt vào Trung-cộng khi Mao-Trạch-Đông chiếm lục địa Trung-Hoa.
    - Ngày 4/12/1950 Chu-Ân-Lai lớn tiếng đòi hai quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa của VN.
    - Năm 1956 Trung-cộng lén lút chiếm thêm đảo Linh-Côn trong quần đảo Hoàng-Sa, đang thuộc chủ quyền VNCH.
    - Ngày 21/12/1959 Hải quân VNCH với sự trợ chiến của Tiểu đoàn 1 Thủy Chiến Lục Chiến , đã đánh Tàu Cộng , chiếm lại các đảo Cam-Tuyền, Duy-Mộng, Quang-Hòa trong nhóm Nguyệt-Thiềm, bắt giữ 84 tù binh và 5 thuyền binh ngụy trang tàu đánh cá. Ngày 27/2/1959 Trung-cộng sau khi thua trận, đã ra thông cáo mạt sát Chính phủ VNCH xâm phạm chủ quyền của Tàu, vì chính Hồ-Chí-Minh cũng như Pham-Văn-Đồng đã chính thức xác nhận bằng văn kiện, là hai quần đảo trên qua tên Tây-Sa, Nam-Sa là lãnh thổ của Trung-Hoa. Tuy nhiên để giữ hòa khí giữa hai nước, Tổng Thống Ngô-Đình-Diệm đã thả hết số tù binh trên về nước.
    - Từ ngày 4-9-1958, Trung Cộng vẽ bản đồ mới và tuyên bố lãnh hải của mình là 12 hải lý. Bản tuyên cáo này chỉ có Bắc-Hàn công nhận đầu tiên. Tại Bắc-Việt, Hồ-Chí-Minh họp đảng để nhất trí và ban lệnh cho Phạm-Văn-Đồng, ký nghị định công nhận ngày 14-9-1958.
    - Ngày 9-1-1974, Kissinger tới Bắc Kinh mật đàm với Mao Trạch Đông, được cho coi văn kiện mà Phạm-Văn-Đồng đã ký xác nhận, hai quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa của VNCH, chính là hai đảo Tây-Sa và Nam-Sa của Tàu. Theo văn kiện và tuyên cáo lãnh hải 12 hải lý, thì chính VNCH đã chiếm đất của Trung Cộng, từ năm 1958, do VC làm chứng và xác nhận. Được cơ hội vàng ròng, tên cáo già Kissinger tương kế tựu kế, nhân danh Nixon, bật đèn xanh, cho Mao đánh VNCH, đề thu hồi lãnh thổ.
    Tính đến năm 1974, khi xảy ra trận hải chiến Hoàng Sa, Hải quân VNCH rất hùng hậu với quân số trên 40.000 người (sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ) , phân thành 5 vùng  duyên hải và 2 vùng sông ngòi. Hải quân có một hạm đội gồm 83 chiến ham đủ loại. Để bảo vệ các sông ngòi, kênh rạch ở Nam phần, Hải quân đã thành lập 4 Lực lượng đặc nhiệm hành quân lưu động, gồm LL tuần thám 212, LL thủy bộ 211, LL trung ương 214 và LL đặc nhiệm 99. Ngoài ra còn Lực lượng Duyên phòng 213, Liên đoàn Tuần giang, 28 Duyên đoàn, 20 Giang đoàn xung phong, 3 Trung tâm Huấn Luyện Hải quân và nhiều căn cứ yểm trợ khắp nơi. Khi xảy ra cuộc hải chiến, Đề đốc Trần Văn Chơn là tư lệnh Hải quân. Tóm lại Hải quân VNCH rất hùng mạnh trong vùng Đông Nam Á.
    Ngay từ thời thượng cổ, người Tàu luôn kính nể dân Việt vì ' họ tuy ở núi mà rất thạo thủy tánh, lấy thuyền làm xe, lấy chèo làm ngựa. Đến thì như gió thoảng, đi thì khó đuổi theo. Tính tình khinh bạc, hiếu chiến, không bao giờ sợ chết và luôn luôn quật khởi với kẻ thù '. Bởi vậy suốt dòng lịch sử , Hải quân Việt đã ba lần oanh liệt chiến thắng quân Tàu trên Bạch Đằng Giang và sông Như Nguyệt. Sau năm 1975, nhiều tài liệu mật nhất là của Mỹ được bạch hóa, trong đó có tương quan lực lượng hải quân giữa Trung-Cộng vùng đảo Hải-Nam so với Hải quân của VNCH thì thua xa và rất yếu. Tình trạng này tới năm 1979 tình trạng quân sự của Trung Cộng vẫn còn lạc hậu, cho nên khi Đặng-Tiểu-Bình muốn dạy Việt-Cộng một bài học về quân sự, lại bị thằng đàn em phản bội đá giò lái. Nhưng dù bị Mỹ dùng viện trợ ngăn cản, đâm sau lưng, Hải quân VNCH trong suốt hai mươi năm (1955-1975), đã anh dũng giữ vững lảnh hải của đất nước một cách gần như trọn vẹn, trước sự dòm ngó tranh dành  hải đảo của cac nước Trung Cộng, Đài Loan, Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Nam Dương và Kampuchia..
    Sau khi đạt được thắng lợi ngoại giao với Hoa Kỳ qua cặp Nixon-Kissinger, đồng thời với sự đồng lỏa của Việt-Cộng, nên giặc Tàu quyết tâm chiếm cho bằng được hai quần đảo ngoài Đông-Hải của VNCH. Dã tâm càng lớn từ năm 1973, sau khi được tin các hảng dầu thăm dò cho biết vùng này có trử lượng rất lớn về dầu khí. Lúc đó VNCH cũng đã bắt đầu ký nhiều hợp đồng, cho phép các hảng dầu tới hai vùng đảo trên khai thác.Thế là ngày 11-1-1974, Trung Cộng lại tuyên bố chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa. Ngày 19-1-1974, bất thần Trung Công tấn công Hoàng Sa, gây nên trận hải chiến, tuy ngắn ngủi nhưng đẫm máu. Trung Cộng dù chiếm được đảo nhưng thiệt hại gấp 3 lần VNCH.
    Quần đảo Hoàng Sa thời Đệ I Cộng Hòa (1955-1963) thuộc tỉnh Quảng-Nam. Cũng trong thời kỳ này, chính phủ đã ban hành sắc lệnh số 134/NV ban hành năm 1956, sáp nhập quần đảo Trường-Sa, vào tỉnh Phước-Tuy. Nghị định số 241/BNV ban hành ngày 14-12-1960, do chính Tổng thống Diệm bổ nhiệm Nguyễn-Bá-Thước làm Phái viên hành chánh Hoàng-Sa. Lại phối trí Tiểu đoàn 1 TQLC trú đóng khắp các đảo, để bảo vệ lãnh thổ VNCH.
    Như thường lệ, vào ngày 18-1-1974 gần tới Tết Âm Lịch Nhâm Dần. Lúc đó Tuần Dương Hạm HQ.16 Lý-Thường-Kiệt, khởi hành từ Đà-Nẳng với công tác chuyển vận đơn vị Địa Phương Quân của Tiểu khu Quảng-Nam, ra Hoàng-Sa hoán đổi định kỳ. Trong chuyến công tác trên, còn có một phái đoàn khảo sát điạ chất, gồm 7 sĩ quan công binh và hải quân. Ngoài ra còn có một người Mỹ tên Gerald Kosh, là nhân viên tùng sự tại Tòa Lãnh sự Hoa Kỳ Vùng I Chiến thuật. Trước khi vào đảo đổi quân, tàu HQ.16 đã vòng các đảo để kiểm soát, nên đã phát hiện được nhiều tàu chiến của Trung-Cộng sơn màu xanh ô liu, ngụy trang như các tàu đánh cá, trang bị toàn vũ khí nặng. Trong lúc đó còn có nhiều tàu chiến khác đang di chuyển từ đảo Phú-Lâm, tiến về các đảo Quang-Hòa, Duy-Mộng và Hoàng-Sa.Do tình hình quá khẩn cấp, nên HQ.16 đã báo về Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Chiến thuật, nên được tăng cường thêm các Chiến hạm như Khu trục hạm Trần-Khánh-Dư, Tuần dương hạm Trần-Bình-Trọng và Hộ tống hạm Nhật-Tảo. Tuy nhiên tất cả đã được lệnh Trung ương, chỉ phòng thủ, không được tấn công trước khi địch chưa khai hỏa.
    Theo sử liệu, trong trận hải chiến này, lực lượng hải quân của Trung-Cộng rất hùng hậu vì đã chuẩn bị trước. Thành phần tham chiến gồm:
        - Hộ tống hạm 271 Kronstadt, Đại Tá Vương Kỳ Uy là hạm trưởng, tử thương.
        - Hộ tống hạm 274 Kronstadt, Hạm trưởng là Đại Tá Quan Đức. Đây cũng là Soái hạm, chỉ huy trận chiến, gồm Tư lệnh là Đô Đốc Phương Quang Kính, cũng là Phó tư lệnh của Hạm Đội Nam Hải. Sau trận đánh, toàn bộ chỉ huy của Trung Cộng trên Soái Hạm này, gồm 2 Đề Đốc, 4 Đại Tá, 6 Trung Tá, 2 Thiếu tá và 7 Sĩ Quan Cấp uý, đều bị trúng đạn đại bác tử thương.
        - Trục lôi hạm 389, hạm trưởng là Trung Tá Triệu Quát tử thương.
        - Trục lôi hạm 396, Hạm trưởng là Đại Tá Diệp Mạnh Hải, tử thương.
        - Phi Tiễn Đỉnh 133 Komar, có hỏa tiễn địa điạ Styx, Hạm trưởng là Thiếu tá Tôn Quân Anh.
        - Phi tiễn đỉnh 137 Komar, có hỏa tiễn địa địa Styx, Hạm trưởng là Thiếu Tá Mạc Quang Đại.
        - Phi tiễn đỉnh 139 Komar có hỏa tiên, Hạm trưởng là Thiếu tá Phạm Quy.
        - Phi tiễn đỉnh 145 Komar có hỏa tiễn, Hạm trưởng là Thiếu Ta Ngụy Như và
        - 6 Hải Vận Hạm chở quân chiến đấu. Ngoài ra còn một lực lượng trừ bị gồm 2 Tuần Dương Hạm, 4 Pháo Hạm, 4 Khu trục Hạm, trang bị hỏa tiễn Kiangjiang, 2 Phi đội Mig 19 và 2 phi đội Mig 21, do tư lệnh Hạm Đội Nam Hải, tổng chỉ huy.
    Bên VNCH, lực lượng tham chiến gồm:
        -
 Khu Trục Hạm HQ4 Trần Khánh Dư, Hạm Trưởng là HQ.Trung Tá Vũ Hữu San.
        - Tuần Dương Hạm HQ5 Trần Bình Trọng, Hạm trưởng là HQ.Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh.
        - Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10, Hạm Trưởng là HQ.Thiếu Tá Ngụy Văn Thà. Trong khi giao chiến, HQ10 bị trúng đạn, toàn thể thủy thủ xuống xuồng nhỏ, thì Hạm Trưởng ở lại tuấn quốc với chiến hạm.
        - Tuần Dương Hạm HQ16, Hạm Trưởng là HQ.Trung Tá Lê Văn Thư. Về lực lượng trừ bị,, có Tuần Dương Hạm HQ6 Trần Quốc Toản, Hộ Tống Hạm HQ11 Chí Linh và Phi Đoàn F5-A37, nhưng vì ở cách xa chiến trường, nên khi chưa tới nơi, thì chiến cuộc đã tàn. Riêng Sư Đoàn 1 Không Quân, không can thiệp.
    Kết quả, phía VNCH, các chiến hạm HQ.4, HQ.5 và HQ.16 bị hư hại nặng nhưng chạy được về Đà-Nẳng sửa chữa và tiếp tục hoạt động sau đó. Chỉ có Chiến Hạm HQ.10 bị chìm, Hạm trưởng Ngụy-Văn-Thà, bị thương nhưng quyết ở lại chết với tàu.
    Về phía Trung Cộng, Tư Lệnh Mặt Trận, Bộ Tham Mưu và 4 Hạm Trưởng tử thương. Hộ Tống Hạm 274 bị chìm, Hộ Tống Hạm 271 và 2 Trục lôi hạm 389-396 bị hư nặng và phá hủy cùng với 4 ngư thuyền bị bắn chìm
     Có một điều bi thảm mà hiện nay ai cũng biết, là hầu hết các Chiến hạm mà Hoa Kỳ đã viện trợ cho Hải Quân VNCH, đều được hạ thủy năm 1940, loại phế thải được tân trạng. Bốn Chiến hạm tham chiến năm 1974, được coi là tối tân nhất, vì HQ4 hạ thủy năm 1943, HQ5 hạ thủy năm 1944, HQ10 hạ thủy năm 1942 và HQ16 hạ thủy năm 1942. Riêng các vũ khí trên tàu, các loại súng liên thanh đều được gỡ bỏ, khi cho VNCH. Nhưng dù quân lực Miền Nam ít, chiến hạm vừa cũ kỹ lại nhỏ, vũ khí trang bị, chỉ có đại bác nhưng vì các Sĩ Quan Hải Quân VNCH đều được huấn luyện như Âu Mỹ, rất thiện chiến và tài giỏi. Cho nên đã tác xạ rất chính xác, làm nhiều tàu giặc cũng như Hạm trưởng tử thương.
    Tệ nhất là người Mỹ, lúc đó vẫn còn là đồng minh của QLVNCH, vẫn đang có hiệp ước hỗ tương chiến đấu và bảo vệ cho nhau. Vậy mà khi cuộc chiến xảy ra, Hạm Đội 7 Hoa Kỳ đang tuần hành gần đó, chẳng những đã không lên tiếng, không can thiệp mà ngay thủy thủ VNCH bị chìm tàu,, cũng không thèm cứu vớt, theo đúng luật hàng hải quốc tế.
    Theo các nhân chứng đã tham dự cuộc hải chiến kể lại, thì lúc đó các chiến hạm của Hải quân/VNCH , đã chống trả với giặc rất dũng mãnh, nên chỉ trong mấy phút đầu, đã có nhiều tàu chiến của Trung-Cộng đã bị bắn chìm. Về phía VNCH, Tuần dương hạm Lý-Thường-Kiệt HQ.16, bị bắn trúng bánh lái và sườn tàu, được HQ.11 dìu về Đà-Nẳng. Trên chiến trường lửa máu, chỉ còn HQ.10 Hộ tống hạm Nhật-Tảo, vùng vẩy chiến đấu với hằng chục chiến hạm của Trung-Cộng, được Không quân từ các căn cứ trên dảo Hải Nam tới yểm trợ.
    Cuối cùng Hộ tống hạm Nhật-Tảo đã bị bắn cháy và chìm giữa biển Đông. Hạm trưởng chiến hạm này là HQ.Trung Tá Ngụy-Văn-Thà, tốt nghiệp khóa 12 Sĩ quan Hải quan Nha-Trang, sinh năm 1943 tại Trảng-Bàng, Tây-Ninh. Khi tàu lâm nạn, với tư cách là chỉ huy trưởng, Trung Tá Thà đã ra lệnh cho Hạm Phó là HQ.Thiếu Tá Nguyễn Thành Trí, sinh năm 1941 tại Sa-Đéc, tốt nghiệp khóa 17 Sĩ quan Hải quân Nha-Trang, hướng dẫn số quân nhân còn sống sót, trong tổng số 80 người trên tàu, dùng bè cao su về đất liền. Riêng Ông ở lại chết với tàu.
    Trên biển, Thiếu tá Trí vì bị thương nặng nên đã chết trên bè, trước khi các quân nhân còn lại, được thương thuyền Skopionella của Hòa Lan, trên đường từ Hồng Kông đi Tân Gia Ba, cứu sống vào đúng đêm giao thừa Tết âm lịch Nhâm Dần (1974). Sau đó 22 quân nhân này được một chiến hạm cũa Hải Đội 1 Duyên Phòng, đón về đất liền. Còn 16 Biệt Hải của Tuần Dương Hạm Lý-Thường-Kiệt, có lệnh  giữ đảo Vĩnh-Lạc, sau khi Hòang Sa thất thủ, đã dùng bè cao su vượt biển về đất liền. Lênh đênh nhiều ngày trên sóng nước, nắng mưa gió lạnh, cuối cùng cũng được một Tàu đánh cá cứu thoát đưa về điều trị tại Quân Y Viện Qui-Nhơn, 2 người chết vì đói lạnh, số còn lại may mắn thoát được tử thần.
    Cuộc hải chiến chấm dứt, các chiến hạm của VNCH đều rút lui, vì  Hoàng-Sa đã thất thủ. Bấy giờ giặc Tàu mới bắt đâu thu dọn chiến trường và xua quân chiếm đóng tất cả các đảo. Về phía VNCH còn kẹt lại trên đảo, gồm Trung đội ĐQP Quảng-Nam, các quân nhân Hải quân, 7 Sĩ quan công binh trong toán khảo sát địa chất, 4 nhân viên sở khí tượng và 1 người Mỹ làm việc ở Tòa lãnh sự Hoa-Kỳ thuộc Quân đoàn 1. Tổng cộng là 42 người, đều bị giặc bắt làm tù binh, giải về thành phố Quảng-Châu và giam trong một trại tù, cạnh dòng sông Sa-Giang. Đây cũng chính là nơi mà hơn mấy chục năm về trước, liệt sĩ Phạm-Hồng-Thái đã gieo mình tự vẫn, để không bị sa vào tay giặc Pháp, sau khi ném bom ám sát hụt Merlin, toàn quyền Đông Dương đang có mặt tại Hồng-Kông.
    Lúc đó đúng 8 giờ sáng ngày mồng một tết nguyên đán, thời gian hạnh phúc nhất của các dân tộc Á Đông vui xuân theo âm lịch, trong đó có VNCH. Riêng 42 tù binh VN  liên tục bị bọn an ninh Trung-Cộng, tra vấn, bắt buộc phải nhận tội là đã chiếm đóng bất hợp pháp lãnh thổ của Tàu. Nhưng rồi không biết vì sao, Đặng-Tiểu-Bình ra lệnh phóng thích tất cả, đưa tới Hồng-Kông để mọi người hồi hương.   
    Lịch sử lại tái diển, ngày 14-3-1988, Trung Cộng lại nổ súng vào Hải quân Việt Cộng, tại quần đảo Trường-Sa. Trong cuộc hải chiến ngắn ngủi này, vì Việt-Cộng chỉ phản ứng có lệ, nên tài liệu cho biết phía Trung-Cộng, không có ai bị tử thương cũng như tàu chìm. Ngược lại, bên VC có nhiều tàu chiến bị chìm, gồm: Chiến Hạm Thượng-Hải của Tàu viện trợ, 1 Tuần Dương Hạm cũ của VNCH để lại, 1 Hải Vận Hạm của Nga-Sô viện trợ và trên 300 lính Hải quân bị thương vong.

2-VC BÁN ĐẤT, BÁN BIỂN CHO GIẶC TÀU:
    Từ sau ngày 30-4-1975 chiếm được  cả nước VN, đảng VC lúc nào cũng rêu rao khoắc lác về độc lập tự do, vẹn toàn lãnh thổ. Thế nhưng mọi sự đã lộ nguyên hình, khi thành tích bán nước cho Tàu, phản bội quê hương bị toàn dân trong và ngoài nước phanh phui nguyền rủa. Nhờ đó, mà những cái loa Việt Gian bợ đít VC, từ bấy lâu nay tại hải ngoại, mới chịu khép miệng, vì không còn biết đâu mà mò.
    Theo đó, ta biết trong năm 1999 và 2000, bọn chóp bu đảng gồm Đổ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương, Phan Văn Khải, Nguyễn Mạnh Cầm và toàn lũ trong Chính trị Bộ, đã lén lút, ký kết 2 Hiệp Ước bất bình thường, vô lý, phản bội dân tộc, trong sự Bán Đất Biên giới và Bán Vịnh Bắc Phần, cho giặc Tàu. Cũng may, thành tích trên sớm bị bật mí, còn không hậu quả biết đâu mà lường, vì Việt-Cộng chuyện gì cũng dám làm, miễn là bảo vệ được chiếc ngai vàng đẫm máu, để còn dịp vơ vét tài sản của đất nước và đồng bào.
    Từ năm 1884, Pháp coi như chính thức đô hộ VN. Từ đó thực dân độc quyền ký kết các hiệp ước song phương và những công ước quốc tế, về luật biển, hải đảo cũng như biên giới giữa các nước. Năm 1885, Pháp ký với Mãn Thanh hiệp ước Thiên Tân, hủy bỏ sự liên hệ giữa Nhà Nguyễn VN và Trung-Hoa, hủy bỏ ấn phong vương, phân định lại đường ranh giới bằng cọc cắm và bản đồ. Năm 1887, Pháp và Trung-Hoa lại ký Hiệp Ước Brévié, phân ranh vùng Vình Bắc Phần, từ Trà-Cổ (Móng Cáy), dọc theo kinh tuyến Đông 108. Theo đó, phía tây đảo Bạch-Long-Vĩ là lãnh hải của VN, phía đông là của Trung-Hoa. Về sự tranh chấp hai quần đảo Hoàng SaTrường Sa, cũng được quốc tế giải quyết năm 1882, theo công ước luật biển. Tháng 11-1993, công ước trên được LHQ phê chuẩn và thi hành vào năm 1994, với 170 quốc gia công nhận, trong đó có Trung-Cộng và Việt-Cộng. Tóm lại đảng VC đã dối trá quốc dân VN, lén lút họp kín với Giặc Tàu trong 20 phiên họp kín. Rồi cũng tự động bí mật ký kết, còn quốc hội VC thì cũng lén lút thông qua.
    Tóm lại, tất cả những ký kết điều hoàn toàn sai trái về pháp lý quốc tế và đạo lý dân tộc, đi ngược lại truyền thống hòa bình, tự chủ, không lấy thịt đè người của bản tuyên ngôn nhân quyền. Tất cả đều là những âm mưu xâm lăng, hay nói đúng hơn chính Hồ Chí Minh và đảng VC đã rước voi Tàu về dầy mã Việt, ngay từ khi bắt đầu nhận viện trợ của Trung Cộng năm 1950 cho tới cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2 (1960-1975) chấm dứt. Trung Cộng lợi dụng quân viện và nhất là trong cuộc chiến biên giới năm 1979 giữa Việt-Trung, đã xua hàng triệu dân Tàu gốc thiểu số tại các tỉnh biên giới, lấn đất dành dân, sâu trong nội địa VN. Theo báo chí ngoại quốc, VC đã bán cho Trung Cộng tại biên giới Việt Hoa, hơn 15.600 km2 và 20.000 km2 lãnh hải trong vịnh Bắc Phần.. Như vậy tại Miền Bắc, ngày nay VN đã mất hẳn  những địa danh hồn thiêng sông núi như Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, và Đồng Đăng với Phố Kỳ Lừa

* ẢI NAM QUAN:
    Ở ngay biên giới Việt-Trung, đường sang Long Châu, tỉnh Quảng Tây, cách Hà Nội 176 km.. Từ thị xã Lạng Sơn, lên Nam Quan xa 17 km, qua chợ Kỳ Lừa, phía tây là Động Tam Thanh, phía trước là núi Vọng Phu, có nàng Tô Thị bồng con đợi chồng. Đồng Đăng cách biên giới 5 km, có Ải Nam Quan hay Cửa Hữu Nghị.
    Theo Nguyễn văn Siêu trong Dư Địa Chí, thì Ải Nam Quan, từ thời Hậu Lê trở về trước, được gọi là Cửa Pha Lũy hay Pha Dữ, nằm về phía bắc Châu Văn Uyển, thuộc Trấn Lạng Sơn. Theo Cương Mục, thì Pha Lũy chính là Ải Nam Quan, ở Xả Đồng Đăng, huyện Văn Uyên, tỉnh Lạng Sơn. Từ thời nhà Lê Trung Hưng, người Tàu gọi cửa Pha Lũy là Trấn Nam Quan, còn VN gọi là Ải Nam Quan. Hai bên cửa Ải là núi cao ngất trời, liên tiếp có rất nhiều ải nhỏ, nằm rải rác khắp các khu vực trọng yếu, trên đường quan lộ dẫn về Thăng Long Thành. Cửa Ải Nam Quan luôn luôn khóa kín, chỉ mở khi có thông sứ chính thức giữa hai nước. Mọi sự hầu như  đều dùng cửa Ải Du thôn, ở xã Bảo Lâm, Châu Cao Lộc, Tỉnh Lạng Sơn. Ải này cách Nam Quan, chừng 2 canh giờ đường núi.
    Thời Pháp thuộc, Nam Quan được gọi là Porte de Chine. Sau năm 1954, Mao Trạch Đông đổi thành Mục Nam Quan. Riêng VC gọi là Cửa Hữu Nghị. Trong dòng sông lịch sử, suốt mấy ngàn năm qua, Nam Quan là nơi chứng kiến bao cuộc tang dâu máu lệ. Ngày xưa, tại nơi này, Mạc Đăng Dung quì gối dâng đất cho nhà Minh để được làm vua, y chang như bây giờ VC lén lút bán biên giới và lãnh hải, hải đảo cho giặc Tàu để vinh thân, phì gia, bảo vệ đảng Cộng sản. Đây cũng là nơi ghi lại những chiến công hiển hách của Đại Việt, trong công cuộc giết giặc Tàu giữ nước, ngay từ năm 40 đời Trưng Nữ Vương, rồi Lê Đại Hành, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi.. cho tới thời Đại Đế Quang Trung Nguyễn Huệ, vào năm 1789, đánh đuổi quân Thanh tại trận Đống Đa. Tôn Sĩ Nghị, cũng chạy qua đây để trốn về Tàu.
    Theo ký họa của Eug.Burnand năm 1887, cho thấy cửa Nam Quan thời ấy, chỉ còn là một tường cao, giữa có cửa thông qua, hai bên là núi non hiểm trở. Đầu thế kỷ XX, theo hình vẽ in trong bưu thiếp  của Collection de Union Commerciale Indochinoise, thấy Cửa Nam Quan nằm dưới chân núi khá cao, phía sau Ải có xây thêm một toà nhà lầu, đứng trên lưng chừng núi. Nhưng rồi chiến tranh triền miên, nhưng công trình này cũng không còn. Sau năm 1949, Mao và Trung Cộng làm chủ nước Tàu, nên đã xây lại Ải Nam Quan, là một toà nhà lầu ba tầng. Cuối cùng là hình chụp của các nhân chứng tại chỗ sau năm 2001, cho thấy cái Ải nhỏ của VN năm 1996, nằm sát ngay trước Cửa Nam Quan, nay bị bứng sâu vào nội địa, nên không thấy tăm dạng Ải Nam Quan như mấy ngàn năm lịch sử.
    Việc Cộng sản Hà Nội tự chuyên lén lút bán nước cho Trung Cộng, nay đã là một biển hận, trời hờn, làm cho người Việt, bất cứ là ai, khi biết được cũng xấu hổ và căm thù bọn phản bội dân tộc. VN mất Ải Nam Quan, coi như đã tự mình hủy diệt một niềm tin quyết thắng, vì Nam Quan là hồn thiêng của sông núi, mà bất cứ một người VN nào khi chào đời, cũng đều, thuộc lòng. Giặc Tàu bao đời nuôi mộng phanh thây chiếm nước người Việt nhưng bao đời chúng đều bị  người Việt, chận đứng trước cửa Nam Quan, vì đây chính mồ chôn quân xâm lăng phương Bắc.
    Từ năm 1930 tới nay, Hồ Chí Minh và đảng VC, chỉ vì lợi lộc cá nhân và đảng hệ, mà cõng voi về đầy xéo đất nước, làm cho voi quen đường, chẳng những lấn đất dành biển, mà còn ngổ ngáo sử dụng một mình một chợ thượng nguồn các con sông thiêng của VN, từ sông Hồng, sông Đà, Lô, Thái Bình ở Bắc Phần cho tới sông Cửu Long tại miền Nam, khiến cho nước ta, từ hăm chin năm nay, chịu không biết bao nhiêu thiên tai bảo lụt, thiệt hại mùa màng tật bệnh, vì những hiện họa của Tàu đổ xuống các dòng sông, theo nước xuống tận đồng bằng sông Cửu Long và ra biển. Rồi đây, VN sẽ lãnh tất cả những chất độc  như Cyanide, arsenic, acid...từ các quặng mỏ trong tỉnh Vân Nam, đổ xuống dòng sông Mekong ra biển. Chưa hết, Trung Cộng chẳng những đã xây các đập thủy điện khổng lồ tại Mãn Loan, Cảnh Hồng, Đại Chiến Sơn..và Hồ chứa nước Lạn Thương Giang, trên sông Mêkong. Mà còn xúi các nước Thái, Miến, Lào cũng góp phần làm hủy hoại tận tuyệt con sông thiêng, khiến cho một ngày nào đó, phù sa sẽ không còn bồi đắp Mũi Cà Mâu và hủy diệt toàn bộ thủy tộc trên biển đông, vì hệ sinh thái cạn kiệt.
    Dân chúng VN bao đời sống nhờ biển cá, VC ngày nay đem biển bán cho giặc Tàu, khiến cho nguồn lợi thủy sản bị hao hụt trầm trọng, tài nguyên dưới đáy biển bao đời, nay thuộc về ngoại bang.
    Tháng 1-2005, ngư dân tỉnh Thanh Hóa, như thường lệ hành nghề trong lãnh thổ của tổ tiễn tại Vịnh Bắc Việt nhưng đã bị lực lượng quân sự của Trung Cộng bắn giết một cách tàn nhẫn tận tuyệt, bất chấp lòng nhân đạo và luật lệ của quốc tế. Sự cố đau lòng tủi nhục trên, khiến cho cả nước kể cả hải ngoại, ai cũng rớt nước mắt vì thương đồng bào mình, cũng như thân phận nhược tiểu VN và kiếp đời nô lệ dưới thiên đường xã nghĩa. Thì ra VC đã đồng thuận với Trung Cộng, cố tình dàn ra một bẩy để ngư dân sụp và coi như chuyện đã có không cần phải giải thích hay thông báo gì gì, cho tất cả người trong nước biết, là từ nay cấm bất cứ ai, không được bén mảng tới nơi chốn, mà hai đảng đã mua bán xong xuôi, nếu không bị Trung Cộng giết hay cướp bóc tài sản, thì ráng chịu. Rồi nay mai, Trung Cộng sẽ khai thac dầu hỏa trong vịnh Bắc Phần, nạn tràn dầu, ô nhiễm chất phế thải sẽ khiến cho đồng bào duyên hải gánh chịu. Đó là chưa nói tới, ngư dân sẽ bị Tàu cấm hành nghề, vì biển cũ đã bị đảng bán cho giặc, vịnh Bắc Việt trở thành Vịnh Hải Nam của người Tàu.
    Năm 1473, khi Thái bảo kiến dương bá Lê-Duy-Cảnh, được giao nhiệm vụ trấn giữ Ải Nam Quan, Vua Lê Thánh Tông đã ân cần nhắn gửi người ra đi: ' Một thước núi, một tấc sông của ta, không được bỏ. Nếu ngươi làm mất, tội đó phải tru di '. Lý-Thường-Kiệt khi đại chiến với quân Tống, đã viết ' Nam Quốc Sơn Hà, Nam Đế Cư ' xác quyết  đất đai của người Việt muôn đời là của Nước Việt, không có ai được quyền xâm lấn hay bán nhượng. Trái lại Viẹt-Cộng thì lúc nào cũng to miệng nhục mạ nhà Nguyễn, vua Gia Long là cõng rắn cắn gà nhà, quy tội cho người Việt không cộng sản là Việt gian, Mỹ Ngụy. Nhưng cuối cùng, khi Pháp rời Đông Dương năm 1955, đã trả lại sông núi cho người Việt, không thiếu một tất đất, kể cả những cơ sở, đồn điền cũng giao hoàn. Suốt thời gian nội chiến 1955-1975, VNCH không hề bán nhượng cho Hoa Kỳ một  cọng cỏ vì tới sáng ngày 30-4-1975, Mỹ đã rút hết về nước. Trái lại VC trong suốt bao năm, làm đủ chuyện phản tặc, từ công nhận Hoàng Sa-Trường Sa là của Tàu, rồi tiếp tục bán nhượng đất đai, sông núi của Tổ Quốc, đó là chưa nói tới, cái sự đem đất thế chấp làm vốn, để đầu tư với Tư bản kiếm tiền bỏ túi.
    Trước năm 1975, lúc nào cũng nói VNCH tham nhũng, độc tài, Diệm-Nhu, Thiệu-Kỳ chạy theo Mỹ, nay rõ ràng hơn chính đảng VC và Hồ-Chí-Minh, mới đích thực sự là đầy tớ, hết Nga tới Tàu, nay sắp bỏ chân qua Mỹ-Nhật. Còn Cán bộ đảng thì tham nhũng, hốt trọn tài sản của dân nước, chuyển hết ra nước ngoài, rửa tiền, đầu tư, làm giàu và hưởng thụ, ai chết mặc bây. Đó chính là thành tích lịch sử của Đảng VC trong ba mươi năm quốc hận.
    Mạnh được yếu thua là phương châm xử thế lâu đời của Trung-Hoa. Bởi thế qua suốt mấy ngàn năm lập quốc, vì thái độ trên đã làm cho nước Tàu loạn lạc triền miên hầu như thời nào cũng có. Tóm lại người Hán dù là ai chăng nửa, chắc sẽ chẳng bao giờ quên đuợc nổi hận nhục trong thời gian nước Tàu bị liệt cường xâu xé từng mảnh. Người Anh đã chiếm Hồng-Kông làm thuộc địa, còn Thượng-Hải là tô giới. Tại đây thực dân đã lập bảng niêm yết nghiêm cấm, không cho người Hoa và Chó vào vườn hoa hay những nơi công cộng, dành cho người ngoại quốc. Trước cảnh đau hận của dân tộc Hán, một học giả Nhật đã cảm khái viết:
'Á lục tiên hiền, ưng nhất tiếu
Anh nhân diệt hoản, sở cầm tù
Tùng kim hoán cải, công viên bảng
bất cám Anh nhân, cập cẩu lai'.
    Liên Bang Sô Viết nay đã tan rã, chỉ còn lại đế quốc Trung-Hoa là một tập hợp của nhiều vùng đất của các dân tộc Mãn, Mông, Tạng, Hồi và Bách-Việt, bị người Hán xâm lăng và cưởng chiếm. Một đất nước mênh mông với hàng ngàn dân tộc dị chủng, luôn mang thù hận và nghi kỵ, Trung-Hoa không sớm thì muộn cũng sẽ bị tan rã như các đế quốc La-Mã, Ai-Cập, Thổ-Nhỉ-Kỳ, Mông-Cổ, Hung-Nô và gần nhất là Ấn-Độ, Nam-Tư và Liên bang Sô Viết.
    Dân tộc Việt trong dòng sông lịch sử, cũng đã chấp nhận luật chơi ' mạnh được yếu thua', cho nên nay vì bất hạnh bị đảng VC hèn mạt cầm quyền, đã phải liên tục mất mát đất đai biển đảo vào tay giặc Tàu. Nhưng lịch sử luôn là sự trùng hợp, chắc chắc con cháu người Việt trong tương lai gần, se quật khởi chiếm lại tất cả lãnh thổ. kể cả hai quân đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa, bị VC dâng bán cho giặc khi cầm quyền. Thời nhà Trần, quân Đại Việt dưới tài lãnh đạo của các vua Trần và Hưng Đạo Đại Vương, một lòng tử chiến nên cuối cùng đã chiến thắng quân Mông-Nguyên ba lần, khi chúng xâm lăng Đại Việt. Nhờ vậy ngày nay ta mới có:
'Nam quốc sơn ha , Nam đế cư
tiệt nhiên định  phận tại thiên thư
như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
nhữ đẳng hành khan thử bại hư '
    Thương biết bao những anh hùng vị quốc, trong đó có những chiến sĩ Hải quân năm nào, đã anh dũng chống giặc Tàu xâm lăng, như tổ tiên ta đã bao đời banh thây đổ máu để có ' Nam quốc sơn hà, nam đế cư '

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Bài viết của GS. Trần Đại Sỷ, Trần Gia Phụng, Chính Đạo.
- Nam Quốc Sơn Hà
- Lê Công Phụng giải thích về sự bán nước cho Tàu
- Pham Phong Dinh 'Chiến Sử VNCH'
- Hải Chiến Trường Sa của NS.Đoàn Kết..

Xóm Cồn
Trước thềm tết Đinh Hợi



08-01-2007

TỬ SĨ HOÀNG SA
Anh hùng Ngụy Văn Thà

QUỐC KỲ và QUỐC CA VN

Bài chọn đăng
Đại Sứ Mỹ J. C. Stevens
Chuyến hải hành sau cùng HQ
TT Thiệu với Hải chiến HS
Báo Tàu: Hải chiến Tây Sa74
Thủy xa vận mới EFV của Mỹ
Chiến Hạm HQ/VNCH di tản 75
Vì sao mất Thác Bản Giốc?
Đường Mòn Hồ Chí Minh
Tàu chiến tàng hình của Mỹ
Tiên Lãng: Đối kháng vũ lực
Your IP : 172.68.65.197    Hải QuânHoàng Sa & Trường SaTài liệu Hoàng và Trường SaTháng1: Nhớ Trận Hoàng Sa  

Copyright © 2003 - 2017 hqvnch.net
Website: 8712861 hits Page generated in: 0.1328125 secs Webmaster