HomeTưởng NiệmThời SựHải QuânSử LiệuTìm hiểuSưu TầmVideoGiải TríLinks
Viewed: 8869892 
Hải QuânHải Quân VNCHTài liệu Hải Quân VNCHThoáng suy tư về Đ/Đ Cang
   
Tài liệu Hải Quân VNCH
Những câu chuyện hải hồ

Phong Trào Dân Chủ VN
Báo Tự Do Ngôn luận ra đời, một bước đột phát trong nỗ lực phá vỡ chính sách độc tai bưng bít thông tin của CSVN.
Báo Tự Do Dân Chủ  ra đời, ngày 2 tháng 9 năm 2006, tại thủ đô Hà Nội.
Tòa án man rợ Cộng sản VN bịt miệng Linh mục Nguyễn Văn Lý.

Hoàng Sa&Trường Sa
Lực lượng Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa 1974
Tài liệu giá trị lich sử do Hải sư Thềm Sơn Hà sưu tìm.
Đại cương về Quần đảo Hoàng Sa 
Hình ảnh - Địa lý - Khí hậu - Vị trí chiến lược. 
Bài sưu tầm của Hải sư Thềm Sơn Hà
HQ10 đi vào lịch sử 
Trận Hải chiến 19/01/1974 chống Trung Cộng xâm lăng.
HQ5 và Hải chiến Hòang Sa 1974 
Hồi ký của Trương Văn Liêm
Biến cố Trường Sa tháng 2-1974
VNCH mở cuộc hành quân Trần Hưng Đạo 48 tại Trường Sa cuối tháng 1/1974 để cũng cố chủ quyền VN ngăn ngừa tham vọng bành trướng của Trung cộng lấn chiếm quần đảo Trường Sa

 

Tài liệu Hải Quân VNCH
Lực Lượng Đặc nhiệm 99
Một tài liệu sống thực để cho các thế hệ mai sau hiểu thêm về nỗi đau đớn của một cuộc tương tàn mà người Việt Nam dù Nam hay Bắc, đã không làm chủ được... 
Hình thành HQ/VNCH
Bài sưu tầm của Bảo Bình Nguyễn Văn Ơn
Sea Float Năm Căn
Chiến dịch Trần Hưng Đạo 4 bình định Năn Căn Cà Mau do Hải sư Trương Thanh Việt sưu tầm.


MỘT THOÁNG SUY TƯ  về Đô Đốc CHUNG TẤN CANG

nguyễn bá trang

chỉ là một thoáng suy tư
khi ngồi nhớ lại chuyện người, chuyện ta
NBT.

    Cách đây không lâu, một hôm tôi đi vào hiệu bán phim tình cờ thấy có đĩa nhựa đề Conspiracy of Kindness. Cái tựa với tiếng đôi phản nghĩa (oxymoron) này khiến tôi chú ý. Liếc xem phần giới thiệu trên bìa thì biết đó là cuốn phim dựa trên tài liệu có thật, nói về công dân Nhật trong thế chiến 2 đã cứu nhiều ngàn người dân Do Thái khỏi bị đẩy vào trại tập trung do lãnh tụ độc tài Đức Quốc Xã bày ra nhằm tiêu diệt tận gốc dân Do Thái.
    Nước Nhật thời Thế Chiến 2 là quốc gia đồng minh chiến lược với Đức, mà Đức thì chủ trương tiêu diệt dân tộc Do Thái, một sự thật lịch sử ngày nay còn lưu lại nhiều chứng cứ rùng rợn nói không cùng. Tên cuốn phim tài liệu này khiến tôi muốn biết lý do nào mà có chuyện trái cựa như thế trong đường lối ngoại giao của nước Nhật về một nhân vật người Nhật, đại sứ Chiune Surihaga, thời xảy ra câu chuyện.


Đô Đôc Chung Tấn Cang

Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang.
    Chiune thuộc hệ tộc Bushido, Võ sĩ đạo, từ nhỏ có khiếu sinh ngữ. Nói được 4 thứ tiếng trong đó có tiếng Nga và tiếng Đức, ông đi vào ngành ngoại giao. Vào năm 1939, ông được chọn gửi đi làm việc ở tòa Đại sứ Nhật ở Moscow nhưng chính quyền Xô Viết ở đây không nhận; sau đó, ông được chỉ định chức đại sứ Nhật tại Ba Lan. Ở cương vị này, ông biết 2 việc. Một là tại nhiều quốc gia trên thế giới đang có thái độ chống người Do Thái. Hai là, vì Nhật lúcbấy giờ đã chiếm toàn bộ Mãn Châu, chính phủ Nhật có đề nghị trước cộng đồng thế giới là cho tất cả ai người Do Thái cần chạy trốn sự kỳ thị, sẽ được đến định cư tại Mông Cổ, dưới sự che chở của người Nhật. Thế nhưng, trưởng lão giáo sĩ Do Thái tại Nữu Ước không nêu ý kiến tiếp theo, cho nên đề nghị của nước Nhật bị bỏ qua: Thế giới chưa quên sự tàn bạo của lính Nhật khi họ tiến chiếm một phần đất quan trọng phía Bắc của Trung Hoa năm 1937.
    Khi đến Ba Lan, ông Surihaga gặp nhiều người dân Do Thái xin ông cấp cho họ chiếu khán từ Ba Lan đi Nhật để từ đây chạy lánh nạn sang Mỹ Châu. Nơi đến nghe nói là Curaçao, một hòn đảo rộng 546 cây số vuông gần 3% lãnh thổ Do Thái ngày nay-- thuộc biển Caribean, ngoài khơi Venezuela, Nam Mỹ. Đảo này lúc bấy giờ do người Hòa Lan chiếm đóng khai thác trồng nho và cam.
    Truớc tình thế này, ông gửi điện xin lệnh của Đông Kinh. Ở đây vì sợ làm mếch lòng nhà độc tài Hitler lúc bấy giờ nên không đồng ý. Là một nhà ngoại giao có căn bản, ông biết từ lâu trước đó, nước Nhật có món nợ tinh thần với người Do Thái trên thế giới, món nợ mà nước Nhật chưa có dịp để trả.
    Cuối thế kỷ thứ 19, nước Nhật, một quốc gia hải đảo, vì sự sống còn của mình mà phải khai chiến với nước Nga thời Sa Hoàng để tiến chiếm Mãn Châu rồi một phần nước Trung Hoa thời Mãn Thanh. Muốn làm chiến tranh thì phải có tiền. Nước Nhật đi vay, nhưng không ngân hàng nào trên thế giới thuận cho, vì mọi người tin rằng trong cuộc chiến tranh đó, Nhật sẽ thua rồi không có tiền trả nợ. Sau cùng rồi chỉ có một chủ ngân hàng người Do Thái ở Nữu Ước thuận cho nước Nhật vay 200 triệu mỹ kim thời bấy giờ mà không đòi hỏi một điều kiện hoàn trả nào, gần như cho không. Bộ trưởng tài chính người Nhật thời đó hỏi lý do cho vay thì được người Do Thái trả lời: “Tôi cho quí ông vay không phải vì tôi là chủ ngân hàng mà vì tôi là người Do Thái.” “Tôi muốn quý ông đánh cho tụi nó (nước Nga của Sha Hoàng) một trận tơi bời” người chủ ngân hàng nói tiếp. Và trong trận chiến đó, Thiên Hoàng Nhật thắng Sha Hoàng Nga rồi thành cường quốc quân sự trong toàn vùng.
    Rồi bấy giờ đang tại chức ở Ba Lan, khi đối diện với những người Do Thái đang tìm cách chạy trốn cuộc tàn sát chắc chắn sẽ xảy ra trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ con-- thì Đại sứ Chiune nghĩ là ông phải cứu những người sấp thành nạn nhân của cuộc tàn sát đại qui mô đó. Nhưng khi ông chưa có hành động gì thêm thì Đức xua quân tiến đánh Ba Lan; ông được lệnh dời sang nước Lithuania. Ở đây ông lại gặp cảnh người Do Thái chạy theo, đến xin ông giấy chiếu khán đi Nhật. Ông ba lần hỏi xin lệnh ở Đông Kinh, nhưhg y như ở Ba Lan trước đó, ông bị từ chối cả ba lần. Ông nghĩ nếu làm trái lệnh của Đông Kinh thì ông bị trách cứ. Còn làm theo lệnh của Đông Kinh thì ông cải lệnh Thượng Đế . Trong hoàn cảnh đó, ông đành quên lệnh của của Đông Kinh mà thuận cấp giấy chiếu khán. Số người xin cấp lúc đầu lên đến số trăm, rồi số ngàn, rồi nhiều ngàn. Trên mỗi tờ chiếu khán, ông và bà đại sứ với một nhân viên thư ký phải viết tay những hàng chữ ngòng ngoèo rồi đóng mộc. Tất cả phải làm việc liên tục cho đến đêm khuya và làm trong nhiều ngày trong khi số người Do Thái kéo đến mỗi lúc mỗi đông, đứng đầy trước rào mặt tiền của tòa Đại sứ Nhật. Thậm chí có nhiều người không có sẵn thẻ thông hành; tòa Đại sứ lấy đại tờ giấy trắng, viết vào đó những hàng chữ, rồi ký tên đóng mộc. Tin này thấu tai Đông Kinh.
    Không lâu sau, Đại sứ Chiune được lệnh dọn đi Bá Linh. Trong khi người nhà thu dọn ra đi, ông và bà Đại sứ tiếp tục viết, tiếp tục ký, đóng mộc cho đến khi họ ra đến cổng, tay vẫn còn ký, ký ngay lúc ở ga xe lửa chờ giờ khởi hành, ký khi lên tàu hỏa rồi ném giấy chiếu khán trở lại cho người xin. Lúc bấy giờ ông và bà không nhớ mình đã ký bao nhiêu tờ chiếu khán. Về sau tìm ra con số gần nhất thì thấy là 2,139, tức là ngần ấy gia đình được cứu thoát cảnh tàn sát của Đức Quốc Xã, nhưng con số thật thì cao hơn thế rất nhiều. Và ông làm thế để được gì? Về sau ông nói: “Thấy việc phải thì làm, không cần biết hậu quả cho mình về sau ra sao; làm mà không đòi một điều kiện nào cả.”
    Sau chiến tranh, Bộ Ngoại giao Nhật gọi ông mang cả gia đình về nước để nghe tin ông chính thức bị sa thải khỏi ngành Ngoại giao. Từ đó ông không có nghề nghiệp nào khác, phải để gia đình tại Nhật, một mình ông đi Liên Sô làm nghề thông dịch trong 15 năm để nuôi ông tại chỗ và nuôi gia đình ông sống lây lất ở quê nhà. Về phần những nạn nhân được ông cứu sau khi ổn định cuộc sống tại nước tạm cư thì có đi tìm ông để trả ơn. Nhưng khi họ đến Nhật để hỏi thăm thì ở đây cho biết không có thông tin nào về về ông cả, vì ông đã đổi tên họ để đi Liên Sô. Khi tuổi già đến, ông về lại nước Nhật và qua đời ở đó, để lại một tấm gương trong sáng về tình người biết đối xử tửù tế với người thật sự cần đến mình để được quyền sống mà ông quên rằng cứu vật vật biết ơn, cứu nhân nhân trả oán thường thấy ở nhiều nơi khác. Hơn thế nữa, ông cho rằng cái ác được thể hoành hành là vì những con người có lòng không ai chịu làm gì để ngăn chận tội ác đó. Rồi ngày nay thì hàng năm, đến ngày giỗ của ông thì đại diện những cộng đồng Do Thái trên thế giới thành lập phái đoàn đi viếng ông ở Nhật để bày tỏ lòng biết ơn đối với người nhiều thập niên trước đã can đảm quên mình để cứu hàng ngàn nạn nhân--không phải người Nhật-- mà ngày nay đã lên đến số mấy trăm ngàn và còn tăng.
    Một nạn nhân được ông cứu nói: “Nhờ chỉ một tờ chiếu khán có chữ ký của ông mà tôi ngày nay có tất cả 25 người con và cháu.” Một người khác thì cảm động hơn, nói: “ Tôi đến đây theo lời trối mẹ tôi trước khi bà qua đời là phải tìm ra ông để chuyển lời bà thành thật biết ơn ông khi sống cũng như khi chết.” Một ông nọ thì: “ Ông đúng là sứ giả trời sai xuống để làm việc cả thễ như thế. Ngoài ông ra thì không ai làm được.”

    Xem phim này tôi bỗng nhớ đến một niên trưởng của tôi, người tôi nghĩ vào thời điểm cuối tháng Tư năm 1975, phải trải qua những giờ phút cô đơn cùng cực, khi ông âm thầm-- trong trường hợp không một ai có thể cho ông một lời cố vấn--lấy quyết định di tản Hạm Đội Việt Nam đến một vùng an toàn cho chiến hạm trước khi giờ lịch sử sấp điểm. Các chiến hạm thuộc Hạm Đội này có mang theo nhiều chục ngàn người. Nếu tên cha mẹ đặt cho một người là định mệnh thì cuộc đời ông là đúng như vậy. Họ của ông là tiếng chuông gọi mời, chữ lót mang nghĩa tiến lên và tên riêng có nghĩa thành thật, nói chung ông là tiếng chuông gọi lòng thành thật. Ông sống chân thật với ông và thành thật với người, được sinh ra để giúp đời khi hữu sự.
    Ông sinh năm 1926. Khi vào đời thì muốn đi xem nhiều nơi trên thế giới nên chọn nghiệp đi biển cả. Gặp cơn quốc biến năm 1952 thì nhận lệnh nhập ngũ, ông bỏ tất cả đi tòng quân theo luật định.
    Tháng 6 năm 1954 khi chúng tôi đang học nghề ở TTHLHQ/Nha Trang thì ông là sĩ quan hạm phó trên chiến hạm học hiệu mà hạm trưởng là một vị Đại úy người Pháp. Lần đầu tiên vào nghề, xuống tàu thực tập thì tôi gặp ông ở đó, cấp trung úy. Một hôm tàu đang ở biển, hạm trưởng đứng ở đài chỉ huy chuẩn bị lên neo, còn ông thì đang ở nhiệm sở tại sàn mũi. Bỗng ông nghe hạm trưởng người Pháp, Hải Quân Đại Úy De Merliac, nói một câu gì mà ông cho là xúc phạm đến thủy thủ Việt Nam trên tàu, ông dậm chân nạt lại ngay. Hạm trưởng đành phải im. Tình huynh đệ chi binh này còn được thể hiện về sau, trong một trường hợp gia trọng hơn, khi ông về coi Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang.
    Một năm trước khi ông phục vụ tại quân trường này thì nội bộ Hải Quân Việt Nam có chuyện không lành do một phúc trình mật gửi về Tổng Thống Ngô Đình Diệm, tố cáo vị đương kim Tư Lệnh Hải Quân về một sơ xuất có liên quan đến điểm nhạy cảm nhất của ông Diệm: Chủ quyền quốc gia. Do đó mà vị Tư lệnh đó bị ngưng chức, ngoài ra còn bị truy tố ra tòa án mặt trận xử cho ngồi tù để làm gương. Tin này khiến niên trưởng tôi nóng mặt vì ông cho danh dự của quân chủng của ông bị xúc phạm trầm trọng. Để tỏ thái độ dứt khoát, ông kể lại, “ Khi biết rõ như vậy, Moa gọi Đại Tá Đổ Mậu, người được xem là thân cận với ông Diệm về phương diện An Ninh Quân Đội, nói nếu trên quyết định đưa Tư Lệnh Hải Quân đó ra tòa thì moa sẽ làm đơn xin giải ngũ lập tức.” Năm 1957, Hải Quân Việt Nam đang thời được thành lập, còn thiếu cấp chỉ huy có khả năng, lời nói của ông khiến cho trên xét lại thấy việc truy tố một Tư Lệnh Hải Quân ra tòa là thiếu khôn ngoan. Hình phạt rút lại còn cho đi du học Hoa Kỳ. Sự lanh trí và tính cả quyết của ông đã cứu người bạn khỏi một tai ương trong gang tất, và chính quyền khỏi phạm vào một việc khó coi. Ông tuổi Bính Dần, trời sinh tính nóng như lửa trong lò cao nhưng rất lành và hữu ích, vì lửa này dùng luyện quặng mỏ thành quí kim.
    Quả thật vậy, trong quân chủng, ông được thiên phú có đủ ngôn ngữ để nói chuyện với từ thủy thủ đến quan, và đến những vị trong hàng tướng lãnh. Với mỗi thành phần trên đây, ông có cách nói riêng của ông. Thời ông làm tại Bộ Chỉ Huy/ Giang lực thuộc Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, ông phải nhận tất cả nhân viên ba-gai nào không ai nhận; nhận rồi “uốn nắn” để dùng. Ông quan niệm rằng sinh ra trên đời, không một ai vô dụng đến không thề không đỡ được một gánh nặng nào cho ai hết. Vấn đề là đặt người đúng chỗ, đúng việc và đúng lúc. Và điều nhiều người nay còn nhớ là qua tay ông, biết bao chiến sĩ giang lực đã chiến đấu gan lì đến trở thành huyền thoại. Được như thế là vì ông biết đặt uy tín của ông trên lòng thành thật như tên gọi của ông.
    Bốn năm sau ngày ra trường, tôi được thuyên chuyển về TTHT/Nha Trang thì ông đang là chỉ huy trưởng ở đó, cấp thiếu tá. Tôi ở quân trường được hai tháng thì ông có lệnh đổi đi, và sau đó hỏi thăm anh em thì biết ông lúc bấy giờ đang du học. Thời gian sau, năm 1959, thấy ông dẫn một tàu trục lôi mới toanh từ Hoa Kỳ về nước. Rồi không còn gặp ông nữa cho đến cuối năm 1963 thì thấy ông về nhận chức Tư Lệnh Hải Quân. Không lâu sau thì ông rời chức vụ, lên Đà Lạt coi trường Chỉ Huy Tham Mưu. Nhiều năm kế đó, từ Đà Lạt ông về Sài Gòn nhận việc bên ngoài quân chủng. Tháng Tư năm 1975, khi tình hình thủ đô bị nhiều xáo trộn thì ông nhận lệnh trở lại chức Tư Lệnh Hải Quân để phải làm một quyết định có liên quan đến hàng nhiều chục ngàn người mà chắc chắn nó—quyết định ra đi—khiến ông, giống như nhân vật Chiune, phải trăn trở không ít, trước khi thi hành lệnh của chính mình ban ra. Tiên sinh Chiune có phân vân giữa Thiên Hoàng ở Đông Kinh và Thượng Đế trên trời, để sau rồi ông chọn cách hành xữ theo ý muốn của Thượng Đế. Niên trưởng của tôi cũng qua nỗi phân vân này và qua đó ông nhận thấy ý nghĩa của hai chữ hi sinh thân thế của mình đề chu toàn một nghĩa vụ đối với hàng nhiều vạn con người trong lúc bị lâm nguy.
    Ở quân trường, chúng tôi có được học qua môn thời tiết, có được dạy về phương pháp đề phòng cũng như tránh bảo tố trên biển với lời khuyên chân thành của huấn luyện viên là, “Biết thế thôi, nhưng đừng bao giờ mong gặp những thứ đó.” Trong thế chiến 2, theo thống kê chính thức của Hải Quân Hoa Kỳ thì trong ba năm hải chiến trên Thái Bình Dương, thời tiết gây thiệt hại cho Hạn Đội số 7 nhiều hơn là bom và đạn của địch. Thế nhưng, tôi đã phải gặp không phải một mà là hai trận bảo trên biển. Một lần năm 1958 trong vùng vịnh Thái Lan khi tàu tôi thuộc thành phần Hải Đội đi thao dượt hàng năm. Toàn thể Hải Đội gồm 8 chiến hạm mà có đến 2 bị sóng và gió đẩy lên bãi An Thới, Phú Quốc. Đó là tàu Hàm Tử 1 và tàu Nỏ Thần. Nhưng trận thứ hai thì nguy hiểm hơn.
    Năm 1966, khi chiến hạm tôi trên đường về nước, đi từ Norfolk (Bang Bắc Carolina — Hoa Kỳ) đến vùng Kinh Panama thì gặp một cơn bảo đang thành hình trên biển Caribean cách 300 hải lý phía trước mặt. Phi tuần Hoa Kỳ cất cánh hướng dẫn các tàu trong vùng tránh bảo. Nhưng cơn bảo đó bỗng nhiên đứng một chỗ. Chúng tôi theo hướng đi do phi tuần khuyến cáo thì mộït ngày sau, cơn bảo bắt dầu di chuyễn rồi hướng ngay vào chúng tôi với vận tốc nhanh kỳ lạ, khiến tàu tôi và bốn tàu khác lọt vào bên trong nửa phần nguy hiểm của nó, bị hút vào con mắt tử thần, rồi có lúc, chiếc tàu hầu như không còn ăn lái. Trong giờ phút nguy nan cao độ đó, tôi bỗng nhớ lại từng chương trong quyển truyện Bão Tố (Typhon) của Josef Conrad viết năm 1903 rồi thấy tình trạng trên tàu tôi lúc bấy giờ là y chang như vậy: Trong bão lớn, con tàu có tiếng kêu của nó, giống như tiếng cá voi hát trong lòng đại dương. Ý ông muốn nói tai người sấp chết thường nghe hồi chuông báo tử. Lần đó thủy thủ trên tàu và tôi đã tận mắt thấy địa ngục nước bao quanh mình, thấy những bức tường mưa thẳng đứng, mỗi giọt nước từ đó bắn ra mạnh như roi quất vào người, cảm thấy gió nóng như sa mạc ngày nắng gắt, rồi gió lạnh như hơi băng tiếp theo, rồi lại nắng gắt, rồi lạnh, thấy những hiện tượng chưa được nói đến trong sách, hay là có mà tôi chưa học qua. Liên lạc duy nhất còn lại với trần thế con người lúc bấy giờ là tiếng từ phi tuần, mỗi 15 phút gọi một lần tên các tàu trong vùng, và gọi cho đến khi có tàu lên tiếng để biết tàu nó còn nổi. Đó là lần thứ hai tôi biết cái kinh nghiệm là trong giờ phút nghiêm trọng nhất, người chỉ huy chỉ còn tin ở khả năng của chính mình và đối với riêng tôi, còn tin ở lời cầu nguyện, để thoát ra khỏi cơn bảo nhỏ--gió 90 dậm giờ!--và thoát ra sau hơn 2 ngày chịu trận, với mui bố trên đài chỉ huy bị xé toẹt rồi bay đi như cái chớp mắt của tử thần, lưới radar sãi cánh 2. 5 thước gẩy gục, các vật dụng trên boong tàu bị hất xuống biển và các hầm dầu đều có dấu nứt, dầu phụt lênh láng trong các phòng gần đó và thủy thủ thì như bị ốm nặng một tuần mới ngồi dậy.

    Trở lại câu chuyện của niên trưởng tuổi Bính Dần. Khi cuộc chiến Việt Nam gần kết thúc thì ông được trên trao chức Tư Lệnh Hải Quân. Thời gian ông phục vụ Hải Quân ở chức vụ đó không lâu, chỉ bằng gần 5% số tuổi của Hải Quân; ông chưa đưa ra một tầm nhìn chiến lược nào cho quân chủng. Khi ông trở lại lần đó, ông liền nhận thấy ngay trong bao nhiêu năm trời, Hải Quân thay vì phải đóng nơi thích hợp nhất, gần biển cả nhất, như Cam Ranh chẳng hạn, thì bị giam chân tại một đoạn chật hẹp của con sông Đồng Nai chạy qua Sài gòn. Việc phải làm tức thời là bảo vệ cho bằng được thủy trình đó ăn thông ra biển để điều động Hạm Đội ra khơi khi cần thiết. Thế là ông cho thành lập ngay một Lực Lương Đặc Nhiệm-99, và trong hàng trăm sĩ quan cao cấp có kinh nghiệm chiến trường trong sông, ông chọn một người để giao nhiệm vụ đó. Và ông không chọn lầm. Chính lực lượng này đã phá vở ý đồ của đối phương trong việc “Cắt đứt Quốc lộ 4, ngang khúc Long An trong chiến dịch tiến đánh Sai Gòn” năm 75.
    Ngày 29 tháng Tư năm 1975, tại Sài Gòn, ông là người ra quyết định cho Hạm Đội lên neo. Ông nhận lệnh từ đâu? Theo một số phụ tá thân cận của ông thời bấy giờ thì không có lệnh từ phía chính phủ cho chuyến khởi hành chở theo hàng nhiều chục ngàn người di tản. Nghĩa là không ai dám ra lệnh cả. Đây chỉ là một giả thuyết.
    Tháng 3 năm 2006, nhân lần được gặp ông khi ông đi Quận Cam dự tang lễ một cựu chiến hữu Nhảy Dù, chúng tôi hỏi về việc ra đi lịch sử này, ông nói: “Thủ tướng Trần Thiện Khiêm nói với tôi: ‘ Chuẩn bị một tàu Dương Vận Ham (LST) cho Chính phủ và Bộ Tổng Tham Mưu, một nữa cho Bộ Tư Lệnh Lưu Động Hải Quân.’.” Như vậy, ý định thành lập Bộ Tư Lệnh/Hải Quân và BTTM lưu động đã có từ thời ông Thiệu còn tại chức. Rồi hơn 30 năm trôi qua, chuyến ra đi đó đã thành lịch sử mà hầu như không để lại mấy dư âm; nhiều người nghĩ chuyến đi được bình an và hoàn toàn may mắn. Nhưng phải được nghe chính ông kể lại những tình tiết nhiêu khê những ngày kế đó thì ngoài cái may mắn ra còn không ít bí ẩn khác.
    Ông tiếp: ”Ngày 25 tháng 4 năm 1975 tôi triệu tập buổi họp gồm các Tư Lệnh Lực Lượng thuộc Quân chủng Hải Quân và các Đại Đơn vị tại Sài Gòn. Nội dung buổi họp là:
          (1) Duyệt xét tình hình chung,
          (2) Quyết định về di tản hay không di tản, và
          (3) Tiếp tế tối đa cho các chiến hạm khiển dụng..”
    Quyết định này tuy được giữ kín, vẫn không qua con mắt của người Mỹ. Theo trí nhớ còn minh mẩn của ông, buổi sáng ngày 26 tháng Tư, một người Mỹ với tên Việt Nam là Phú, đến Bộ Tư Lệnh/Hải Quân. Ông ta đang có nhiệm sở ở cơ quan D.A.O của Hoa Kỳ tại khu Tân Sơn Nhất. Niên trưởng tiếp: ”Ngày đó, ông này đưa ông Von Marbot, Thứ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, đến gặp tôi tại Bộ Tư Lệnh/Hải Quân bằng một trực thăng đáp tại bến Bạch Đằng. Ông Von Marbot thúc dục tôi ra đi và sẵn sàng để tôi xử dụng chiếc trực thăng của ông ta. Còn ông ta và ông tên Phú đó dùng gì để di chuyển tiếp theo là điều làm tôi thắc mắc. ”Với đề nghị vào giờ chót đó của 2 người Mỹ đó, ông nói:” Tôi sẽ không ra đi một mình, để lại hơn 40,000 nhân viên và gia đình của họ ở lại.” Khi người Mỹ này trở lui thì ông liếc nhìn ra bến Bạch Đằng thấy có chiếc trực thăng còn đó. Cũng theo lời của ông, “Ngay cầu Đô Đốc gần bên, một chiếc Tuần Duyên đỉnh loại PGM đang đậu bến, mũi hạ giòng. Rồi liền đó, Đại Tá Đoàn Ngọc Bích điện thọai nói, :’ Một thủy thủ trên chiếctàu tuần duyên đó vừa báo cho ông hay là xạ thủ trên tàu tuần duyên dược lệnh quay súng 20 ly về hướng văn phòng của Tư Lệnh Hải Quân và nổ súng khi thấy Tư Lệnh ló dạng. Thiếu Tá Bùi Kim Nguyệt cũng đươc báo tin này, bèn cho Ty Quân Cảng ra tháo dây Tuần duyên đỉnh rồi giòng nó đi xa Bộ Tư Lệnh.” Có lẽ nào người Mỹ ông nói đó, biết rất rõ rằng ông luôn trực tính, và dị ứng với những gì là mệnh lệnh sai trái đến từ người nước ngoài?.
    Ngoài ra, cùng ngày này, Chỉ Huy Trưởng Đặc Khu Rừng Sát Báo ông biết một đoàn trực thăng của Không Quân Việt Nam—nói là của ông Kỳ-- đang đáp xuống Bộ Chỉ Huy/ ĐK/RS xin được tiếp tế xăng GP-4, loại nhiên liệu cho trực thăng do người Mỹ để lại trước kia mà không biết từ đâu mà các phi công trực thăng biết ở Đặc Khu có xăng loại đó. Và rồi trưa ngày 29 tháng Tư ông ra lệnh tất cả lên neo di chuyển đến một nơi an toàn là biển cả sau khi đưa dân chúng chạy loạn đến Phú Quốc.
    Khi được hỏi trước khi cho lệnh Hạm Đội lên neo, phía chính phủ có chỉ thị gi cho Hải Quân thi hành hay không thì ông nói trong buổi sáng ngày 29 tháng Tư thì ông có nhận diện thoại từ Đại tướng Dương Văn Minh. Sau đây là phần đối đáp:
    DVM: Toa gửi Thủy (Phó Đề Đốc Diệp Quang Thủy, Tham mưu trưởng Hải Quân) lên cho moa.
    Đáp: Đại tướng cần gì, tôi lên ngay.
    DVM: Moa chỉ cần Thủy thôi.
Khi Phó Đề Dốc Thủy trình diện Đại tướng Minh thì:
    DVM: Tụi toa có đi cho moa gửi 3 người này theo với. (Số 3 người đó là: tướng Hoàng (Xui gia của tướng DVM), Đại tá Nguyễn Hồng Đài (Con rể của tướng Minh) và tướng Mai Hữu Xuân).
    Đáp: Thưa nếu Đại tướng có đi, chúng tôi sẵn sàng đưa Đại tướng đi luôn.
    DVM: Tụi toa cứ lo cho 3 người này. Moa phải ở lại. Nếu đến mức phải chết thì người ta chỉ chết có một lần thôi.

    Như vậy thì chính ông Dương Văn Minh khi biết Hạm Đội sấp lên neo thì ông không cản mà cũng không ra lệnh. Khi hỏi quan niệm thi hành lúc bấy giờ cho Hạm Đội đi đâu, làm gì, thì ông nói: “ Cố đưa mấy chục ngàn dân chúng ra Phú Quốc rồi sau đó Hạm Đội sẽ trở lại nhưng, để tránh tình trạng bi động, Hạm đội không vào Sài Gòn. Nơi an toàn cho chiến hạm luôn là mặt biển. Khi đi thì điểm tập trung là Côn sơn.” Ông nói tiếp, “ Lúc Hạm Đội đang ở điểm tập trung này thì có tin ông Minh ra lệnh bàn giao chính quyền miền Nam.”
    Nhìn đồng hồ, thấy còn chút thì giờ, chúng tôi xin được trình bày ý kiến của chúng tôi. Ông thuận.
    Qua nhiều năm làm việc trong chính phủ, ông hẵn thấy chính quyền miền Nam từ thời Đệ Nhất đến Đệ Nhị Cộng Hòa đều bị lệ thuộc vào những tính toán chiến lược của người Mỹ tại không phải chỉ ở Việt Nam mà là toàn khu vực Đông Nam Châu Á. Và tính toán nào thì cũng qui về quyền lợi chính trị, quân sự và kinh tế của nước Mỹ trước tiên.
    Vào thời điểm cuối tháng Tư tại miền Nam, cả thế giới biết chính quyền miền Nam không tồn tại quá 24 giờ đồng hồ. Trong tình thế đó, việc di tản Hạm Đội là khẩn cấp, dù cho có biết mọi việc xấu tốt gì về sau thì chỉ mình ông nhận lấy. Câu hỏi nát óc thứ hai ông phải trả lời lúc bấy giờ là:” Cứu người hay không cứu người?”

    Gần 40 năm trước, đại sứ Chiune Surihaga đã nhìn thấy hàng ngàn con người Do Thái hồn xiêu phách lạc, tụ tập bên ngoài rào sắt trước tòa Đại sứ Nhật Bản tại Ba Lan rồi tại Lituania, mỗi người chìa tay ra xin ông giúp cho tờ giấy hộ chiếu cứu mạng. Con người kỷ luật và chính trị trong ông Đại sứ nói là nên bỏ mặc những nạn nhân đang kêu cứu đó, nhưng con người nhân bản trong ông nói việc cấp cứu là điều bắt buộc phải làm. Ông làm không phải làm chỉ vì món nợ người Nhật đối với người chủ ngân hàng người Do Thái từ hồi đầu thế kỷ, mà chính vì cái thiện tâm và lòng biết hi sinh vì người khác. Tại Sài Gòn tháng Tư năm 1975, chính phủ hầu như không còn gì. Theo luật bang giao quốc tế thì nơi nào ta không có đại diện chính quyền thì vị sĩ quan Hải Quân thâm niên tại chỗ tự động nhận lấy trách nhiệm lo cho kiều bào của mình khi họ có yêu cầu chính đáng.
    Năm 1964, một chiến hạm của ta đang có mặt ngoài khơi cảng Kompong Thom, Campuchia. Bỗng có một thuyền máy từ bờ chạy hướng ra tàu, theo sau có một tiểu đỉnh võ trang đuổi theo. Chiến hạm ta cho hạ ngang nòng súng, hướng về những hoạt động đó trong khi trên cột buồm chính thì cờ đỏ, cờ chữ B, kéo lên vị trí lưng chừng, hi vọng phía bên kia hiểu đó là dấu báo súng trên tàu đã có đạn, nên phải làm theo lệnh của chiến hạm trước khi lá cờ đó được kéo tận đỉnh.
    Trên chiếc thuyền thứ nhất có ba người Việt Nam ra dấu cho biết họ bị tàu cảnh sát địa phương đuổi bắt nên xin chiến hạm có mang quốc kỳ Việt Nam cứu mạng. Thực hư ra sao chưa rõ, hạm trưởng chiến hạm đang có mặt tại chỗ, nhận cả ba người mang về Dương Đông, Phú Quốc, giao cho chính quyền địa phương; thuyền của họ thì bỏ lại cho tiểu đỉnh võ trang kia kéo đi. Không lâu sau đó, qua trung gian của lãnh sự Pháp tại Sài gòn, Việt Nam biết những người được cứu đó là 3 hung phạm can tội giết người trong một án mạng tại Nam Vang, liền đồng ý giải giao tất cả họ về chính quyền Nam Vang xét xử.
    Tại Sài Gòn lúc bấy giờ, ông đã hành xử đúng theo qui định trên. Đâu quen biết những người đang trên đường chạy chết. Lúc bấy giờ, ông chỉ thấy đó là người Việt Nam, những người không có tiếng nói nào ngoài nét hoảng hốt trên mặt tất cả lớn bé trẻ già thì ông động lòng và theo tiếng nói của lương tâm mà hành xử với phương tiện ông có trong tay. Ông đại sứ không quen biết những người Do Thái hồi năm 1939 nhưng ông có con dấu và lòng nhân. Niên trưởng tôi không quen những người đang chạy nạn hồi cuối tháng Tư năm 1975 nhưng ông có chiến hạm và tấm lòng nhân và sự dám hi sinh thân thế của mình vì việc nghĩa. Ông đã đánh đổi cả một đời binh nghiệp của ông để cứu ngần ấy con người trong trường hợp cần phải cứu. Vì rằng nếu ngày ông quyết định ra đi mà Sài Gòn không sụp đổ thì cái gì sẽ xảy ra cho bản thân ông thì ông đã có nói rõ: bị truy tố ra Tòa Án Mặt Trận.
    Nghe trình bày ý kiến của chúng tôi xong, ông nói một câu tiếng Pháp nguyên văn là: “Nhiều khi ta phải biết cải lệnh để cứu vãn quyền lợi của quốc gia.” [1]
    Và quyền lợi của quốc gia trong thời chiến là cái gì gây bất lợi cho kẻ thù.Thế nhưng ông cũng can đảm xác nhận quyết định của ông lúc bấy giờ là vô kỷ luật. Ông nói:” Ngày đó, chính quyền ông Dương văn Minh trên danh nghĩa thì vẫn còn. Tôi ra lệnh cho Hạm Đội lên neo chỉ là để nhanh chóng đưa tài sản quốc gia là các chiến hạm, trên đó có người tị nạn chiến tranh, đến một nơi an toàn hơn Sài Gòn lúc bấy giờ và nơi đó là Phú Quốc. Điểm tập trung các tàu là Côn sơn. Ý định lúc bấy giờ chỉ có thế, nghĩa là Hạm Đội được bảo toàn tối đa và sẽ trở lại khi tình hình cho phép.” Ông nói đúng. Để cứu thủ đô đang bị nguy khốn, Bộ Binh có thể rút về mật khu còn Hạm Đội với hỏa lực tầm xa của mình không thể nằm tại thủ đô mà phải tạm thời di tản toàn bộ đến một vùng an toàn là biển. Ông đã làm như vậy và sau đó chưa đầy 24 giờ thì mọi sự đã an bài, rồi tất cả những người tị nạn thay gì được đưa đến Phú Quốc, phải ly hương kể từ đó.
    Khi định cư tại Hoa Kỳ, ông sống âm thầm với việc làm chân tay. Một ít anh em thỉnh thoảng rủ nhau đến thăm thì thấy tính ông vẫn như xưa: cương trực, niềm nỡ và kể chuyện ngày xưa với trí nhớ vô song của ông. Một lần theo anh em đến thăm ông tại Bakerfields, miền Nam California, trong khi nói chuyện xưa, chúng tôi hỏi ông có nhớ tên tiếng Pháp của chiếc trục lôi Hàm Tử 1 ông phục vụ năm 1954 là gì thì ông nói ngay là Aubépine, tên một loài hoa dùng dặt cho một chiến tàu có 300 tấn mà ông nhớ lâu đến hơn 50 năm! Điều này chứng tỏ ông tha thiết đến từng nơi có dấu chân ông, đến từng những gì thuộc về ông. Một người bạn cũ cùng khóa tôi nói: “ Tôi giải ngũ lâu lắm rồi mà có lần tôi vào Biệt Khu Thủ Đô Sài Gòn có chút việc thì gặp ông đang ngồi xe từ trong chạy ra. Tôi cúi đầu chào ông và, anh biết không, ông cũng cúi sát đầu chào trả lại tôi.” Và ở cấp chức của ông, ông còn biết nhiều chuyện thuộc thâm cung bí sử mà ông còn nhớ như in, nhưng giữ trong lòng. Tiếc là trong anh em chúng tôi không ai có khả năng viết lách để đến xin ông những chi tiết bao trùm cả hai nền Cộng Hòa về viết thành sử liệu cho con cháu mai sau.
    Nhìn cảnh sống của ông trong hiện tại, chúng tôi trực nhớ trước kia tuy mang ba ngôi sao trên mỗi vai, ông chỉ sống với những gì quân đội cấp cho ông. Ông đi đạo Chúa nhưng chắc ông biết triết lý nhà Phật có nói “Đau khổ là có thật; nó không phải chỉ đến từ khát vọng không cùng của con người mà chính là từ lòng ta luyến tiếc—hay là tự lệ thuộc ta vào--những gì không thường còn ở trần thế này. Ông sống bình thản, không tự lệ thuộc mình vào những gì không cần thiết cho đời sống và công vụ. Ông không truy tìm danh phận mà chỉ nhận làm tốt những gì quân đội và chính phủ giao ông đảm trách. Đó là con người thuần khiết theo đúng nghĩa triết học của danh xưng. Năm 1975, khi ông đang ở chức Tư Lệnh Hải Quân thì nội bộ có vụ lủng củng khiến ông phải rời chức vụ. Phe đảo chính ông không tìm ra một khuyết điểm nào của ông cả bèn nói ông dung túng nhân viên ông làm điều sai trái. Chúng tôi không được thuyết phục với lời tố cáo trên đây. Có anh em đứng ra chống lại phe làm đảo chính, đưa tình thế đến mức nồi da xáo thịt. Ông đồng ý rút lui. Về sau găp ông, chúng tôi hỏi cho rõ nguyên do thật của nội vụ, nguyên do mà không ai hơn ông phải biết rõ. Ông chỉ trả lời với 2 chữ:” Ngoại bang.” Chúng tôi tin. Trong quân chủng, không thiếu anh em vì không được lòng “Ngoại bang” mà bị bứng đi, không thì ngồi chơi xơi nước! Thời đó có người nói với giọng tếu rằng:” Bộ óc của ai đó nằm ở mông: nó luôn nhớ chiếc ghế!” Ông thì ngược lại. Khi công vụ cần ông thì ông làm, khi không cần nữa thì ông đứng dậy ra đi, nhẹ nhàng, không thắc mắc.
    Năm 2004, anh em giúp ông tổ chức tại Nam California tiệc mừng năm ông lên thượng thọ, tính theo tuổi ta. Đó là mức đo tình cảm anh em đối với ông. Ngày đó, chỉ báo trước có hai tuần mà không ít người từ nhiều tiểu bang khác cũng sang Nam California góp mặt chia vui với ông. Trong giấy báo có võn vẹn 40 chữ lời mời với yêu cầu không nhận quà biếu mà anh em mang đến cho ông nhiều thứ quý giá đếm khá lâu mới hết.

    Trong phim Conspiracy of Kindness có cảnh trưởng lão ra-bai thay mặt toàn thể cộng đồng Do Thái đứng run run nói: “ Thưa ông Đại sứ, khi ông sống trong túng thiếu, chúng tôi đã dường như không nhớ đến ông. Ngày nay thì con cháu chúng tôi thành đầy đàn cũng nhờ ơn ông mà có được, xin ông nhận nơi đây lòng tất cả chúng tôi tri ân ông mãi mãi.” Và dường như không ít người Do Thái khác cũng có lòng biết ơn người từng cưu mang giúp đỡ họ trong cơn hoạn nạn như thế [2] như một ít sắc dân, người Do Thái ít được nhân dân thế giới ưa chuộng, nhưng họ rất sòng phẳng và biết điều nếu người khác biết tôn trọng quyền sống của họ như tôn trọng quyền sống của những ai khác [3]
    Sau hơn 60 năm, số 2,139 + gia đình người Do Thái đã thành “đầy đàn”, trong khi nhiều chục ngàn người Việt được ông giúp di tản tháng Tư năm 1975 thì sau hơn 30 năm là bao nhiêu đàn? Giả dụ năm 1939 tại Lithuania mà ông đại sứ Chiune vì muốn bảo vệ tương lai chính trị của mình mà không dám ký một tờ chiếu khán nào cả thì số phận của hơn 2,139 gia đình Do Thái đó sẽ ra sao? Và tại Việt Nam, ngày cuối tháng Tư năm 1975, nếu không một ai dám ra lệnh cho Hạm Đội lên neo thì hàng chục ngàn gia đình người Việt Nam chạy nạn đang ở trên tàu sẽ đi về đâu? Trong trường hợp đó thành thật mà nói, số người ra đi không có là bao. Thế nhưng, dường như cơ trời không hề muốn như vậy mới có sự hiện diện của ông trong ngày đó.
    Khi sống, đại sứ Chiune sinh hoạt âm thầm. Sau khi ông qua đời thì tên ông được dùng đặt tên một con đường ở Latvia, thủ đô sứ Lithuania và tại nước Nhật thì có một công viên xinh đẹp để tưởng nhớ ông. Niên trưởng tôi chúng tôi vẫn phần nào còn tốt phúc hơn Chiune Surihaga. Ông được anh em bày tỏ lòng yêu mến khi ông vào tuổi vãng niên, nghĩa là ông còn được cái niềm vui khi nhìn lại người rồi nhìn lại mình. Và qua những gì thấy được trong hiện tại, tình cảm này sẽ còn mãi mãi về sau. Người xưa có nói:” Mất thành không sợ; mất dân mới đáng sợ.”
    Buổi trưa ngày 29 tháng Tư năm 1975, ông biết thành sẽ mất nên ông làm các cách để cứu người trong khả năng tối đa của ông có được. Một chiến hạm trên biển êm thì ai cũng có thể lái được dễ dàng. Khi lâm trận, chiến hạm cần một hạm trưởng tài ba, cả quyết. Trong tình thế của ngày 29 tháng Tư, Hạm Đội Việt Nam cần một người gồm hai đức tính trên với tinh thần trách nhiệm cộng lòng nhân, dám quên thân thế của mình lo cứu nhiều vạn người ra khỏi nơi dầu sôi lửa bỏng. Ở cấp bực cao nhất trong quân chủng lúc bấy giờ, khác với nhiều ai khác, ông có thể đi một mình với vài thủ hạ một cách an toàn và nhanh chóng. Nhưng thay vì làm vậy, ông nghĩ đến số đông những người ông không quen biết. Ông cố gắng đưa họ đi đến nơi an toàn cho sinh mạng của họ. Ông nói hành động của ông ngày đó là vô kỷ luật vì nếu tình hình diễn biến ngược điều ông dư tính thì ông phải ra tòa án binh mà trả lời. Đó là vì tính khiêm hư mà ông nói thế. Sau hơn 30 năm nhìn lại, hẵn chúng ta cũng thấy nếu như ông nói hành động đó là “vô kỷ luật” thì đó là một “vô kỷ luật” cần thiết, vì nó mang lại điều lợi cụ thể nhất và thuyết phục nhất cho một số hàng nhiều chục ngàn người cùng một lúc, mà ngoài ông ra thì khó có ai khác dám nghĩ dám làm.
    Thời gian ông lãnh đạo quân chủng so với những vị khác ở chức vụ đó là ngắn nhất, không đầy 5% số tuổi của Hải Quân. Cố Tổng Thống Donald Reagan có lần nói:” Thượng Đế có chương trình cho mỗi người trong chúng ta.” Chương trình dành cho vị niên trưởng trên đây không tính bằng thời gian mà tính bằng thiên ý. Nói khác hơn, ông là con người của định mệnh. 

    Một tư tưởng rất thâm dịu của nhà Phật là xây cất nhiều chùa không bằng làm phúc cứu được một người. Và ai cũng biết rằng ngày ông đơn phương quyết định cho Hạm Đội lên neo di tản, hi sinh thân thế của mình, ông đã cứu không biết bao là người mà ông không bao giờ quan tâm con số đó là bao nhiêu. Nhưng có người nhớ thay cho ông. Theo tài liệu ghi trong chiến dịch “Operation New Life,” từ mồng 5 tháng 4 tới 1 tháng 11 năm 1975, đảo Guam biến thành một thành phố lều vải khổng lồ. Hơn 150,000 người người Việt di tản tìm tự do đã được đưa đến đây[4] Và ai cũng biết rằng phần lớn những người trong con số thống kê khổng lồ này được đưa đến đảo bằng đường biển, không phải đường hàng không, càng không phải bằng đường bộ. 

Chú Thích:
[1] Des fois, if faut savoir désobéir quand il s’agit de sauvegarder the intérêts de l’Eùtat.
[2] Báo L.A. Times Magazine ngày 15 tháng Giêng, năm 2006: Jerry Mose’s Remarkable journey—How China saved the life of a young Jew from Nazi Germany. Almost 60 years later, he returns to Shanghai to give thanks—By Adam Minter.
[3] Kịch bản Ryan Interview của Arthur Miller.
[4] Tin báo VIỆT BÁO ngày 29/04/06, Thống Đốc đảo Guam, ông Felix P. Camacho (CH) đã trao toàn bộ hồ sơ, hình ảnh, dữ kiện 227 ngày của người Việt tại đảo Guam cho Hội Bảo Tồn Lịch Sử và Văn Hóa Việt Nam (VAHF).



30-01-2007

TỬ SĨ HOÀNG SA
Anh hùng Ngụy Văn Thà

QUỐC KỲ và QUỐC CA VN

Bài chọn đăng
Đại Sứ Mỹ J. C. Stevens
Chuyến hải hành sau cùng HQ
TT Thiệu với Hải chiến HS
Báo Tàu: Hải chiến Tây Sa74
Thủy xa vận mới EFV của Mỹ
Chiến Hạm HQ/VNCH di tản 75
Vì sao mất Thác Bản Giốc?
Đường Mòn Hồ Chí Minh
Tàu chiến tàng hình của Mỹ
Tiên Lãng: Đối kháng vũ lực
Your IP : 162.158.63.165    Hải QuânHải Quân VNCHTài liệu Hải Quân VNCHThoáng suy tư về Đ/Đ Cang  

Copyright © 2003 - 2017 hqvnch.net
Website: 8873393 hits Page generated in: 0.0625 secs Webmaster